(vasep.com.vn) Ngày 15/3/2016, tại TP Cần Thơ, dự án SUPA và Dự án sáng kiến thay đổi thị trường (MTI) đã đồng tổ chức hội thảo "Rà soát chính sách phục vụ nuôi trồng thủy sản bền vững ở Đồng bằng sông Cửu Long”. Hội thảo nhằm tìm giải pháp tháo gỡ khó khăn hiện tại của ngành thủy sản vùng ĐBSCL, phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững và thúc đẩy kim ngạch XK thủy sản của khu vực này.
Tham dự hội thảo có đại diện Cục Thú y (Bộ NNPTNT), Vụ Pháp chế-Thanh tra (Tổng cục Thủy sản), Chi cục Thủy sản và Chi cục Thú y của các tỉnh: An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Hậu Giang, Cà Mau, Sóc Trăng; một số HTX nuôi cá tra và nuôi tôm, các hộ nuôi và đại diện các DN CBXK cá tra, tôm tại ĐBSCL.
Tham luận tại hội thảo, ông Lê Văn Quang, Tổng Giám đốc Công ty CP Tập đoàn Thủy Hải sản Minh Phú, đã có bài tham luận về hiện trạng và những trăn trở của ngành nuôi trồng thủy sản VN nói chung và ngành nuôi-chế biến-XK tôm nói riêng, kèm theo những đề xuất và kiến nghị với 8 nội dung cụ thể như sau:
1. Về quy hoạch vùng nuôi:
Quy hoạch nuôi tôm hiện nay còn yếu, có thể nói là chưa có quy hoạch các vùng nuôi tôm mà chỉ mang tính tự phát của các hộ nuôi tôm.
Hệ thống thuỷ lợi cho nuôi tôm được đầu tư yếu; không có kênh cấp riêng, không có kênh thoát riêng mà đa số cùng cấp cùng thoát ở cùng 1 kênh nên từ chính con kênh đó làm bệnh dịch lây lan tràn lan. Vì thế tỷ lệ thành công của ngành nuôi tôm VN dưới 30% trong 5 năm qua, làm giá thành con tôm VN cao hơn 20% so với các nước trong khu vực và thế giới.
Giao thông vào các khu nuôi kém, chỉ có xe 1 - 3 tấn vào được, có vùng chỉ xe Honda vào được. Vì thế chi phí vận chuyển con giống, thức ăn, vận chuyển tôm khi thu hoạch cao, từ đó làm giá thành con tôm nguyên liệu VN đã cao lại càng cao hơn.
Các vùng nuôi không có nước sạch đạt tiêu chuẩn VSATTP để rửa tôm khi thu hoạch và trước khi muối ướp, mà chỉ dùng nước sông, nước ao hồ và nước giếng khoan để rửa tôm nên tôm VN bị nhiều vi sinh: vi sinh Ecoli, vi sinh Samonella và Vibrio SPP… rất cao, khi về đến các nhà máy chế biến phải mất rất nhiều chi phí để xử lý, thậm chí xử lý với chất diệt khuẩn ở nồng độ cao cũng không hết, phải chiếu xạ làm tăng thêm chi phí và làm cho sản phẩm tôm của VN không và khó vào các nước, các hệ thống siêu thị cao cấp, khó vào các nước như Nhật, EU, Mỹ, khó vào hệ thống nhà hàng… Do vậy, sản phẩm tôm của VN có tính cạnh tranh thấp.
Các vùng nuôi của VN có ít nhà máy sản xuất nước đá, hầu như các nhà máy sản xuất nước đá cung cấp nước đá để nuôi tôm đều không đạt tiêu chuẩn vi sinh nên cũng xảy ra tình trạng như nước rửa tôm nguyên liệu ở trên.
2. Về con giống:
Ở VN, chưa có một nơi hay một trung tâm nghiên cứu, gia hoá, chọn giống tôm bố mẹ và cũng chưa có nơi sản xuất tôm giống bố mẹ có đặc tính sinh học tốt, vượt trội, chưa có nơi sản xuất tôm bố mẹ sạch bệnh và kháng bệnh mà hoàn toàn phải NK tôm bố mẹ làm giá thành sản xuất con giống cao, do đó giá thành con tôm VN cao.
Do không có tôm bố mẹ tốt, sạch bệnh và kháng bệnh nên khi sản xuất con giống các trại thường dùng kháng sinh nên tôm nuôi VN chậm lớn, tỷ lệ thành công thấp, dưới 30%. Tôm bị nhiễm một số loài kháng sinh không đào thải được trong quá trình nuôi như Nitrofuran…do đó không xuất được vào Nhật, EU, Mỹ…
Để đảm bảo chất lượng con giống, cơ quan nhà nước cần yêu cầu các cơ sở, trại giống phải đạt chứng nhận BAP thì mới được cấp phép sản xuất.
3. Về thức ăn:
Thức ăn tôm của VN gần như do các công ty nước ngoài sản xuất nên họ độc quyền, thao túng làm giá bán cho hộ nuôi tôm cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Hai năm trở lại đây, để tăng lợi nhuận, các nhà máy sản xuất thức ăn tôm thay đạm động vật bột cá bằng đạm thực vật như bột sắn (khoai mì), bột ngô, bột đậu nành, khi cho tôm ăn, khó tiêu hoá, làm yếu hệ tiêu hoá của tôm và làm tôm chết. Trong 2 năm gần đây, Minh Phú cho tôm ăn thức ăn công nghiệp thì tôm chết, ngưng cho ăn thì tôm ngưng chết, mà không cho tôm ăn thì tôm không lớn được. Vì thế công ty phải lấy thức ăn công nghiệp, ủ vi sinh từ 12h đến 24h để cắt mạch đạm thực vật thành mạch đạm đơn, khi cho tôm ăn, tôm phát triển tốt và lớn nhanh.
Ở Thái Lan, chỉ có các đơn vị sản xuất thức ăn đạt tiêu chuẩn BAP 1 sao mới được cấp phép sản xuất thức ăn, đó là luật do chính phủ Thái Lan ban hành.
Kiến nghị các cơ quan quản lý VN cần tuyên truyền, phổ biến việc sử dụng thêm chất Astaxanthin để trộn vào thức ăn tôm, để tôm ăn vào, khi luộc lên sẽ đạt màu đỏ 24-25, tăng tính cạnh tranh cho con tôm VN.
4. Về quy trình nuôi và công nghệ nuôi:
Việt Nam không có một Viện/Trường nào chuyên nghiên cứu về quy trình nuôi, công nghệ nuôi tôm để có được một quy trình nuôi, công nghệ nuôi tốt, đạt giá thành thấp, lợi nhuận cao, mà tất cả chỉ do các hộ nuôi tôm, các DN nuôi tôm tự mày mò tìm kiếm. Suốt 5 năm nay VN chưa có được quy trình nuôi tốt để chống được bệnh EMS, EHP,.. nên người nuôi tôm VN đa số bị lỗ, bị mất vốn khi nuôi tôm.
Trong khi đó, Thái Lan đã nghiên cứu và cho ứng dụng quy trình nuôi tôm chống được EMS, EHP, đốm trắng và các bệnh tôm khác. Dự kiến năm 2016, Thái Lan đạt sản lượng 350 - 400 ngàn tấn và đạt 600 ngàn tấn vào năm 2017.
5. Về dịch vụ và cung ứng dụng cụ, vật tư, thuốc, chế phẩm vi sinh và thức ăn:
Qua rất nhiều tầng lớp trung gian với mức chiết khấu rất cao làm đội giá cao thêm 50%, hoặc thậm chí có thuốc, có chế phẩm vi sinh đội giá lên gấp 2, gấp 3 lần, vì thế, lại một lần nữa giết chết dần các hộ nuôi tôm, các DN nuôi tôm.
Vì qua rất nhiều tầng, nhiều lớp trung gian nên cơ quan nhà nước rất khó quản lý, làm sinh ra nhiều sản phẩm giả , sản phẩm nhái…người nuôi tôm càng sử dụng nuôi tôm càng chết.
Hệ thống trung gian nhiều tầng nhiều lớp này tư vấn và bán thuốc kháng sinh cho nguời nuôi tôm dẫn đến tình trạng quá lạm dụng kháng sinh, nên tôm thương phẩm của VN bị nhiễm kháng sinh với tỷ lệ rất cao nên không bán được vào Nhật, EU, Mỹ được.
6. Kiểm tra giám sát quá trình nuôi:
Ở VN, không có một cơ quan nhà nước nào kiểm tra định kỳ và giám sát quá trình nuôi nên tôm nuôi sử dụng kháng sinh vẫn được chở đến các nhà máy chế biến. Các nhà máy chế biến phải sắm thiết bị kiểm vi sinh Eliza và LC/MS/MS tốn nhiều chi phí và vốn đầu tư. Để kiểm tra và tìm được một số kháng sinh phải mất từ 1 đến 2 ngày. Nếu dùng Eliza để kiểm nhanh kháng sinh sau 2 đến 3 tiếng có kết quả thì tỷ lệ đúng chỉ đạt 50% so với máy LC/MS/MS.
Ở Thái Lan, Ấn Độ, định kỳ hàng tháng và tôm trước khi thu hoạch, cơ quan nhà nước lấy mẫu tôm nuôi kiểm, nếu tôm đạt và không nhiễm kháng sinh thì cơ quan nhà nước cấp cho một giấy được phép thu hoạch. Nếu VN làm được như vậy, các DN chế biến sẽ giảm bớt lo ngại và tập trung nguồn lực vào tìm kiếm và mở rộng thị trường, tìm kiếm mở rộng khách hàng và cơ hội kinh doanh và khả năng cạnh tranh của con tôm VN sẽ mạnh và tốt hơn.
7. Về thu hoạch, muối ướp, bảo quản và vận chuyển:
Khâu này của VN yếu hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Nước rửa tôm, nước đá muối tôm nguyên liệu không đạt tiêu chuẩn VSATTP và không có ai kiểm tra giám sát, tôm nguyên liệu của VN bị nhiễm vi sinh tổng số cao bị nhiễm E-Coli, bị nhiễm Samonella, bị nhiễm Vibrio…nên mất nhiều chi phí để xử lý.
Mặt khác khi thu hoạch tôm, các đại lý thường cho tôm uống nước vòi, ngâm nước và ngâm thuốc từ 1 đến 2 ngày để tăng trọng được 10-15% rồi mang đến bán cho các nhà máy. Vì thế tôm nguyên liệu đến nhà máy chất lượng không cao, chỉ bán được vào các thị trường cấp thấp với giá thấp.
Hệ thống đường giao thông tại các vùng nuôi kém, nên thời gian thu hoạch và muối ướp tôm kéo dài cả 10 tiếng làm chất lượng tôm nguyên liệu giảm và chi phí muối ướp, vận chuyển tăng cao.
Ngoài ra đối với tôm sú còn có hiện tượng bơm chích tạp chất, bơm chích Agar, cắm đinh, cắm tăm tre, tăm dừa vào tôm. Tình trạng này kéo dài hơn 20 năm qua, đến nay vẫn chưa kiểm soát được, có xu hướng trầm trọng hơn, làm chất lượng tôm VN bị giảm và mất uy tín nghiêm trọng trên thị trường thế giới.
8. Về chế biến và xuất khẩu:
Hiện tại vẫn còn những hiện tượng làm ăn chưa trung thực, ví dụ như vấn nạn đưa tạp chất vào tôm, cân thiếu trọng lượng làm ảnh hưởng xấu đến con tôm VN và làm các DN làm ăn tốt, chân chính bị ảnh hưởng. Vì một số DN chế biến tôm thường bị nhiễm kháng sinh, vi sinh ở thị trường Nhật Bản làm Nhật Bản đưa tôm VN vào lấy mẫu và kiểm soát kháng sinh và vi sinh 100%, nên chi phí lưu kho, chi phí kiểm mẫu cao, giảm cạnh tranh tôm Việt Nam.
Còn Thái Lan và các nước khác kiểm soát tốt hơn nên không bị kiểm tra, kiểm soát như VN mà chỉ thỉnh thoảng mới lấy mẫu kiểm, nên hàng của họ được ưa thích hơn, cạnh tranh.
Nếu các cơ quan nhà nước giải quyết được những tồn tại của 8 điểm nêu trên, con tôm Việt Nam sẽ được nâng cao khả năng cạnh tranh, thu nhập của bà con nuôi tôm VN sẽ được cải thiện và kim ngạch XK của DN chế biến tôm VN sẽ được khởi sắc.