Nửa đầu năm 2026, XK thủy sản Việt Nam ước đạt 5,7 tỷ USD, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2025. Kết quả này cho tín hiệu tích cực trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, sức mua tại một số thị trường lớn phục hồi chậm, chi phí đầu vào và các yêu cầu tuân thủ ngày càng khắt khe hơn.
Trong nửa đầu năm 2026, hoạt động thương mại quốc tế ghi nhận cán cân thương mại nhập siêu gần 17 tỷ USD, mặc dù xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ ở mức 2 con số. Việc các ngành hàng trong nước vừa tăng trưởng xuất khẩu, vừa có thặng dư thương mại mang nhiều ý nghĩa, góp phần quan trọng giúp cân bằng cán cân thương mại, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Xuất khẩu thuỷ sản là một trong những điểm sáng như vậy.
PV Nguyên Long phỏng vấn bà Lê Hằng - Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) về kết quả 6 tháng đầu năm và những nhiệm vụ đặt ra trong 6 tháng cuối năm nhằm đạt mục tiêu về đích 12 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu và duy trì cán cân thương mại xuất siêu cả năm 2026:

Bà Lê Hằng - Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP). Ảnh TTXVN
PV. Thưa bà, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam nửa đầu năm 2026 đã duy trì đà tăng trưởng tích cực, là 1 trong 3 nhóm hàng có cán cân thương mại thặng dư, đóng góp vào thành tích xuất siêu của toàn ngành trong 6 tháng đầu năm (ước đạt 7,54 tỷ USD). Dưới góc độ hiệp hội, xin bà cho biết cụ thể về hoạt động xuất nhập khẩu ngành hàng thuỷ sản nửa đầu năm 2026?
Bà Lê Hằng - Phó TTK Hiệp hội VASEP: Nửa đầu năm 2026, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam ước đạt 5,7 tỷ đô la, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2025. Có thể nói kết quả này là một tín hiệu tích cực trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, sức mua của một số thị trường lớn phục hồi chậm và chi phí đầu vào cũng như các yêu cầu về tuân thủ các rào cản về thuế quan và kỹ thuật đều tăng và đều khắt khe hơn.
Từ góc độ doanh nghiệp chúng tôi nhìn nhận bức tranh xuất khẩu của ngành hàng thuỷ sản với hai mặt: một mặt là ngành thuỷ sản của chúng ta vẫn duy trì được năng lực sản xuất, chế biến và xuất khẩu khá tốt. Các doanh nghiệp đều chủ động tìm kiếm được đơn hàng, điều chỉnh các cơ cấu sản phẩm, đa dạng hóa thị trường và khai thác tốt hơn các thị trường tiềm năng như là thị trường châu Á và các thị thường mới khác, đặc biệt là thị trường truyền thống ngay cạnh chúng ta là Trung Quốc.
Thị trường Trung Quốc chính là một động lực tăng trưởng lớn cho ngành thủy sản Việt Nam, đặc biệt trong 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc đạt gần 1,4 tỷ đô la, tăng hơn 40%. Các thị trường khác như ASEAN, Hàn Quốc… cũng có vai trò tích cực trong việc thúc đẩy hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam.
Tuy nhiên, xuất khẩu vào 2 thị trường chủ lực là Hoa Kỳ và EU lại đều giảm. Trong đó, xuất khấu sang thị trường Hoa Kỳ giảm 10% và xuất khẩu sang Nhật Bản thì gần như chỉ giữ ở mức đi ngang. Điều này cho thấy các doanh nghiệp đang phải hoạt động trong trạng thái vừa phải phục hồi, vừa phải đối mặt với những rủi ro của thị trường.
Về đơn hàng, nhìn chung các nhà nhập khẩu có xu hướng thận trọng hơn trong việc nhập hàng, và họ đặt hàng với góc độ ngắn hơn, chia nhỏ đơn hàng hơn và yêu cầu giá cạnh tranh hơn; Đồng thời cũng kiểm soát chặt chẽ hơn cả về mặt chất lượng, truy xuất nguồn gốc, các chứng nhận cũng như thời gian giao hàng.
Đối với các nhóm hàng nuôi trồng như là tôm, cá tra thì vẫn có dư địa hơn trong bối cảnh hiện nay nhưng lại gặp khó khăn về giá thành cũng như là cạnh tranh với các nước khác trên thị trường. Ngành hải sản (cá ngừ, mực, bạch tuộc, cua, ghẹ) đang đối mặt với thách thức lớn về nguồn nguyên liệu khan hiếm và rào cản kỹ thuật khắt khe. Các quy định như chống khai thác IUU (của EU), Đạo luật Bảo vệ Thú biển MMPA (của Hoa Kỳ) cùng các yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng chặt chẽ hơn, đòi hỏi doanh nghiệp phải thích ứng quyết liệt.
PV. Cùng với các khó khăn đó, qua thực tế hoạt động XNK nửa đầu năm, theo bà đâu là điểm nghẽn lớn nhất trong hoạt động XNK ngành hàng thuỷ sản?
Bà Lê Hằng - Phó TTK Hiệp hội VASEP: Điểm nghẽn lớn nhất đó chính là áp lực từ các thị trường nhập khẩu, bao gồm các chính sách thuế quan bất ổn của Hoa Kỳ khiến cho dòng chảy thương mại bị xáo trộn và khó lường, khó có thể đoán định. Các rào cản và quy định này ngày càng khắt khe, gây cho doanh nghiệp khó khăn trong việc tuân thủ cũng như khiến cho chi phí tuân thủ ngày càng tăng.
Cụ thể, với thị trường Hoa Kỳ, doanh nghiệp đang phải đối mặt đồng thời với cả thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp với tôm, cá tra; chương trình rà soát cá tra; chương trình giám sát thủy sản nhập khẩu (SIMP); quy định về bảo vệ động vật biển có vú (MMPA)… đòi hỏi phải có đầy đủ các chứng nhận để xuất khẩu hải sản khai thác sang thị trường Hoa Kỳ, và rất có thể vẫn còn những biện pháp khác nữa có thể gia tăng trong thời gian tới.
Thực tế riêng xuất khẩu tôm sang Hoa Kỳ đã bị sụt giảm hơn 20% cho thấy tác động rất rõ, sức mua của thị trường này bị sụt giảm; cạnh tranh của các nước tại thị trường này, vấn đề về thuế quan cũng như chi phí đầu vào đã ảnh hưởng đến ngành tôm của Việt Nam.
Với thị trường EU thì thẻ vàng IUU vẫn chưa gỡ được, đó vẫn là một áp lực lớn đối với nhóm các doanh nghiệp xuất khẩu hải sản khai thác. Và sau những thông tin khuyến nghị của EU sau đợt thanh tra vừa qua thì các quy định và các lần kiểm tra về thủ tục xác nhận, chứng nhận đối với hải sản khai thác cũng được thiết chặt hơn nữa, việc thực thi ở địa phương cũng chặt chẽ hơn nữa. Điều này cũng khiến cho việc xuất khẩu sang thị trường EU cũng có những nhịp bị chững lại.
Ngoài ra còn có các điểm nghẽn khác, như chi phí logistics hay là container tăng lên. Trong đó có cả vấn đề về nhiên liệu, phí bảo hiểm, phụ phí vận tải… cũng khiến cho các chi phí đầu vào của doanh nghiệp tăng, ảnh hưởng đến giá thành và sức cạnh tranh của doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam.
Một thách thức nữa đó chính là vấn đề về nguồn nguyên liệu. Những khó khăn của giai đoạn trước đã khiến cho các hộ nuôi bị giảm sản lượng đi. Do vậy nguồn nguyên liệu tôm và cá tra trong giai đoạn từ nay đến cuối năm được xác định cũng sẽ khó khăn hơn.
PV. VASEP có nhận định như thế nào về hoạt động xuất khẩu 6 tháng cuối năm, và giải pháp nào để đạt mục tiêu kim ngạch hơn 12 tỷ USD của cả năm 2026?
Bà Lê Hằng - Phó TTK Hiệp hội VASEP: VASEP vẫn kỳ vọng là năm 2026 có thể đạt được tăng trưởng 2 con số đối với xuất khẩu thuỷ sản, và vẫn kỳ vọng 6 tháng cuối năm xuất khẩu có cơ hội tăng trưởng cao, mặc dù những kỳ vọng đó cũng mang nhiều yếu tố phải thận trọng. Bởi vì những câu chuyện về thị trường Hoa Kỳ; những vấn đề về thuế quan cũng chưa thể lường trước được nó sẽ có những bất cập gì… Tuy nhiên VASEP cũng rất kỳ vọng có những cơ hội lớn ở các thị trường khác.
Thứ nhất, thị trường Trung Quốc vẫn có cơ hội tăng trưởng mạnh, nhất là đối với các mặt hàng tôm. Dự kiến Trung Quốc sẽ tăng nhập khẩu các sản phẩm như là tôm sú và đặc biệt là tôm hùm từ Việt Nam. Hy vọng đây sẽ là một động lực để xuất khẩu tôm tăng trưởng mạnh và kéo lại sự sụt giảm của thị trường EU, Hoa Kỳ. Tuy nhiên, cũng phải trận trọng đối với những rủi ro của thị trường Hoa Kỳ, bởi những biến số về thuế quan, về phòng vệ thương mại và việc kiểm soát nhập khẩu của thị trường này; cũng như phải tính tới những thách thức từ câu chuyện thẻ vàng IUU và đặc biệt là cạnh tranh với các nước khác rất nmạnh như Ecuado và Indonexia trong ngành tôm. Cũng phải lường trước cả những câu chuyện về chi phí logistics, chi phí đầu vào, nó sẽ tác động lớn đến năng lực cạnh tranh của thuỷ sản Việt Nam.
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng trên 12 tỷ đô la - thì mới đạt tăng trưởng 2 con số - trong năm 2026, thì trước hết, doanh nghiệp rất cần sự đồng hành của các bộ, ngành để tháo gỡ những bất cập trong các quy định chính sách trong nước, ví dụ như là những vấn đề về xác nhận, chứng nhận nguyên liệu để xuất khẩu đi EU hay là chứng nhận giấy COA để xuất khẩu hải sản đi Hoa Kỳ...
Thứ hai, doanh nghiệp cũng rất cần sự hỗ trợ của các bộ, ngành trong việc cung cấp các thông tin cảnh báo thị trường, thông tin về nhu cầu thị trường để tìm kiếm thị trường mới, hoặc là giữ được những thị trường ổn định (ví dụ như thị Trung Quốc). Bản thân doanh nghiệp cũng phải chủ động để nắm bắt và cập nhật thông tin từ các kênh của Chính phủ, các bộ, ngành và của các hiệp hội, trong đó đặc biệt là Hiệp hội VASEP để kịp thời điều chỉnh các kế hoạch cũng như là chiến lược sản xuất kinh doanh của mình khi có những thay đổi, biến động.
Thứ ba, cần tận dụng được cơ hội của các thị trường ít có những biến động và đang có những lợi thế về địa lý, về chi phí logistics như là Trung Quốc, ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc v.v.
Thứ tư, cũng phải tính đến chuyện gia tăng nhiều hơn tỷ trọng sản xuất hàng chế biến sâu. Chế biến hàng giá trị gia tăng một mặt là vừa để nâng cao giá trị hiệu quả kinh tế kinh doanh cho ngành của mình. Một mặtt nữa là để tránh được rủi ro về thuế, đặc biệt là thuế chống bán phá giá, bởi vì, cái thuế đó nó nhằm vào những cái hàng đông lạnh. Cũng cần phải cải tiến hiệu quả sản xuất để có sản phẩm có giá cạnh tranh, tận dụng được những phân khúc sản phẩm có giá hợp lý trong bối cảnh kinh tế của các nước hiện nay đang khó khăn, nhất là thị trường EU, hay thị trường Mỹ thì người tiêu dùng họ hướng tới những sản phẩm có giá rẻ hơn, thì mình cũng có thể tận dụng cho những dòng sản phẩm như là cá tra, hay là một số nhóm cá hộp của mình.
Thứ 5, cần phải nâng cao khả năng, năng lực tuân thủ trước bối cảnh mà các yêu cầu, các quy định thị trương ngày càng khắt khe như thế. Doanh nghiệp phải chủ động hơn, phải xác định là mình không thể không quan tâm đến vấn đề phải tuân thủ một cách tuyệt đối. Do đó, phải chuyển từ tư duy là xử lý hồ sơ khi phát sinh vụ việc sang quản trị rủi ro một cách chủ động. Và để làm được việc đó thì cần số hóa dữ liệu: dữ liệu từ vùng nuôi, dữ liệu về nguyên liệu, tàu cá; số hóa trong cả các việc như làm các chứng nhận kiểm nghiệm hồ sơ xuất khẩu… thì đó là yêu cầu cần thiết để giữ được thị trường
Cuối cùng, cũng khá quan trọng, đó chính là muốn mở rộng thị trường bây giờ thì phải tăng cường hơn nữa xúc tiến thương mại; Và truyền thông ngành hàng thì cần sự hỗ trợ và phối hợp giữa Hiệp hội với Bộ Công Thương, không chỉ là đẩy mạnh các chương trình hội chợ và B2B ở các thị trường trọng điểm, mà phải mở rộng ra cả các thị trường khác nữa, những thị trường ở các vùng xa như Nam Mỹ, Châu Phi.. Nếu những giải pháp này được triển khai đồng bộ thì VASEP rất lạc quan và kỳ vọng năm 2026 xuất khẩu thuỷ sản có thể đạt được mức tăng trưởng 10%.
PV. Xin trân trọng cảm ơn bà!
Nguyên Long (thực hiện)
(Theo vov.vn)