Sau khi có thông báo từ phía Mỹ thay đổi cơ quan quản lý cá da trơn nhập khẩu và cá tra Việt Nam muốn nhập khẩu vào Mỹ phải đáp ứng tiêu chuẩn chăn nuôi cá da trơn của Mỹ thì một số ý kiến cho rằng Việt Nam nghèo làm sao nuôi hiện đại như Mỹ được? Rằng đòi hỏi của Mỹ về việc cá tra phải “nuôi kiểu Mỹ” mới được nhập khẩu vào thị trường Mỹ là vô lý, là không công bằng bởi Việt Nam đã xuất khẩu cá tra vào Mỹ 20 năm qua, được người tiêu dùng Mỹ chấp nhận và đánh giá tốt thì cứ thế mà làm...
Chúng tôi nghĩ, đây là cơ hội để ngành sản xuất cá tra kiện toàn hoạt động sản xuất, đáp ứng nhu cầu của thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Cá tra Việt Nam chỉ có thể bán tốt nhất ở Mỹ khi đáp ứng được các quy định của nước Mỹ, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Mỹ. Những “quy định”, những “tiêu chuẩn” cũng luôn thay đổi theo sự phát triển của nhận thức, của khoa học nhằm bảo đảm quyền lợi của nhà sản xuất, người tiêu dùng ngay cả ở Việt Nam. Nói về nông nghiệp Mỹ, Đạo luật nông nghiệp 2014 của Mỹ thể hiện cụ thể nhiều vấn đề với phạm vi rộng lớn và chi tiết nhằm thể hiện sự quản lý nền nông nghiệp của Mỹ “từ đồng ruộng tới bàn ăn”. Việc quản lý xuất nhập khẩu (cụ thể như cá tra, trái cây, đậu nành, bắp...) không chỉ đơn thuần là chuyển việc từ Cơ quan quản lý dược phẩm và thực phẩm (FDA) sang Bộ nông nghiệp Mỹ (USDA) mà chuyển biến cách thức quản lý chuỗi sản xuất để đảm bảo chất lượng và an toàn thực phẩm thay vì chỉ quản lý “ngọn” của sản phẩm như trước kia. Theo đó, cá tra xuất khẩu vào thị trường Mỹ phải đáp ứng yêu cầu của USDA về quản lý kỹ thuật vùng nuôi (chất lượng nước), quản lý về sản xuất giống (chất lượng giống thuần và không có biến đổi gen), sản xuất thức ăn, thuốc thú y (liên quan chất lượng thịt cá và tồn dư hóa chất) đến cách thức đánh bắt, chế biến, đóng gói (ổn định chất lượng sản phẩm), bảo quản, chiếu xạ (tránh hư hỏng sản phẩm sau chế biến và tái nhiễm) và cách thức xuất khẩu.
Theo kinh nghiệm thực hiện Chương trình xuất khẩu trái cây Việt Nam, các cơ quan quản lý của Bộ nông nghiệp Mỹ và Việt Nam cùng tiến hành làm các thủ tục đăng ký vùng nuôi trồng (tối thiểu đủ sản lượng tổ chức xuất khẩu và cấp mã số); khai báo nguy cơ dịch bệnh và giải pháp loại trừ; quy chuẩn nhà chế biến, đóng gói (cấp mã số); lập bản đồ chiếu xạ, xác định nhà máy và quy trình chiếu xạ (cấp mã số). Quy định cơ quan kiểm tra từng khâu suốt chuỗi sản xuất hàng hóa xuất khẩu, ghi chép có hệ thống để chắc chắn sản phẩm đảm bảo được sản xuất ổn định và an toàn (sản phẩm cũng như an toàn thực phẩm), để có thể truy nguyên khi có vấn đề (mất an toàn thực phẩm...) trong quá trình tiêu thụ.
Đối với ngành sản xuất cá tra, ngoài việc khẳng định đẳng cấp sản xuất, việc làm trên còn phản ánh minh bạch giá trị gia tăng sản xuất cá tra, tránh được tình trạng bán phá giá, vốn cản trở phát triển thương mại xuất khẩu cá tra vừa qua.
Động thái của Mỹ cũng cho thấy sự cần thiết, tính cấp thiết phải áp dụng hệ thống sản xuất và quản lý theo chuỗi, hệ thống truy xuất nguồn gốc, cũng như cần có sự phối hợp hiệu quả giữa các bên liên quan. Sản phẩm cá tra của Việt Nam phải tương đương về mặt quản lý kỹ thuật về sản xuất, thu hoạch, bảo quản... cá da trơn sản xuất tại Mỹ. Trên thực tế, nếu nhà nuôi cá da trơn Mỹ sử dụng tiêu chuẩn nuôi trồng BAP (và giả sử Bộ nông nghiệp Mỹ hiện sử dụng tiêu chuẩn kỹ thuật BAP) thì nhiều nhà nuôi cá Việt Nam đã đáp ứng và chỉ cần rà xét các khâu khác trong chuỗi giá trị gia tăng cá tra xuất khẩu. Theo kinh nghiệm rút ra từ Chương trình xuất khẩu trái cây Việt Nam, sản xuất theo quy trình VietGAP gồm các tiêu chí thích ứng với các tiêu chí sản xuất trái cây của Mỹ cũng đã được cấp mã số vùng sản xuất trái cây xuất khẩu vào Mỹ. Cá tra hay nông phẩm nào đó muốn tìm chỗ đứng trên thị trường nào thì cần nghiên cứu kỹ yêu cầu sản xuất, chế biến, bảo quản đóng gói (kể cả nhãn hiệu, ngôn ngữ và nội dung giới thiệu sản phẩm, tem, logo...) phương tiện bảo quản, vận chuyển của thị trường đó.
(Theo KHPT)