Việt Nam chiếm trên 50% tổng nhập khẩu tôm của Thụy Sỹ

(vasep.com.vn) Thụy Sỹ, chiếm 0,5% tổng giá trị NK tôm của toàn thế giới, chủ yếu NK tôm để tiêu thụ trong nước. Mỗi năm, nước này NK khoảng 8.500 tấn tôm.

NK tôm của Thụy Sỹ không ổn định tôm trong 10 năm (2007-2016) với giá trị NK đạt thấp nhất năm 2007 với 81,4 triệu USD và đạt cao nhất vào năm 2014 với 144,6 triệu USD. Năm 2014, giá trị NK tôm vào nước này đạt cao nhất do giá tôm thế giới tăng đột biến. Từ 2014-2016, giá trị NK tôm vào nước này có xu hướng giảm dần.

Trên thị trường Thụy Sỹ , Việt Nam phải cạnh tranh giá với Ecuador và các nguồn cung ở châu Á như Bangladesh, Thái Lan và Ấn Độ trong khi tôm Việt Nam có giá phải chăng hơn so với các nguồn cung ở châu Âu như Đức, Đan Mạch, Pháp.

Trong 10 năm (2007-2016), Việt Nam luôn là nguồn cung tôm lớn nhất cho Thụy Sỹ, chiếm tỷ trọng áp đảo khoảng 50% tổng giá trị NK tôm của Thụy Sỹ. Tiếp đó lần lượt là Đức, Đan Mạch, Ecuador và Bangladesh.

Tôm nguyên liệu đông lạnh (HS 030617) và tôm chế biến đóng túi kín khí (HS 160529) là 2 sản phẩm chính NK vào Thụy Sỹ. Việt Nam đều là nguồn cung lớn nhất về cung cấp 2 mặt hàng này cho Thụy Sỹ.

Thụy Sỹ miễn thuế NK mặt hàng tôm nguyên liệu đông lạnh (HS 030617) cho tất cả 5 nguồn cung chính (Việt Nam, Đức, Đan Mạch, Ecuador và Bangladesh).

Ba quý đầu năm nay, NK tôm vào Thụy Sỹ đạt 87,6 triệu USD; tăng 17% so với cùng kỳ năm 2016. Việt Nam vẫn là nguồn cung lớn nhất, chiếm 59% tổng giá trị NK tôm của Thụy Sỹ; tiếp đó lần lượt là Đức, Đan Mạch, Pháp, Hà Lan.

Thụy Sỹ đứng thứ 10 trong số các thị trường NK tôm chính của Việt Nam, hiện chiếm 1,03% tổng giá trị XK tôm của Việt Nam đi các thị trường.

Tính tới ngày 15/11/2017, XK tôm của Việt Nam sang Thụy Sỹ đạt 34,3 triệu USD; tăng 17,3% so với cùng kỳ năm ngoái.

Việt Nam nên tận dụng lợi thế là nguồn cung tôm lớn nhất và thuế suất 0% về cung cấp tôm cho Thụy Sỹ để duy trì và đẩy mạnh XK sang thị trường này.

Bình luận bài viết

Tin cùng chuyên mục
  • bc_tom
  • Báo cáo ngành tôm