(vasep.com.vn) Bản tin thủy sản thế giới ngày 22/10/2026 cập nhật những diễn biến đáng chú ý tại các thị trường lớn, từ an toàn thực phẩm, nguồn cung khai thác đến thương mại thủy sản giữa Nga và Trung Quốc. Xu hướng xuất khẩu cá thịt trắng, cua, bột cá cùng những thay đổi về sản lượng tại Mỹ, EU và Indonesia tiếp tục thu hút sự quan tâm của ngành thủy sản toàn cầu.

1. Dịch Salmonella liên quan hàu sống tại Mỹ ghi nhận 27 ca mắc ở 12 bang
Đợt điều tra nhiễm Salmonella Telelkebir liên quan đến hàu sống khai thác tại sông Little Wicomico, bang Virginia, ghi nhận 27 ca mắc, 5 trường hợp nhập viện và chưa có ca tử vong tại 12 bang, tính đến ngày 19/10. Cơ quan quản lý khuyến cáo không tiêu thụ, bán hoặc phục vụ các lô hàu thuộc diện thu hồi. Diễn biến cho thấy việc truy xuất vùng thu hoạch và kiểm soát lô hàng tiếp tục được siết chặt khi xảy ra sự cố an toàn thực phẩm.
2. Sản lượng sò điệp Mỹ vượt mức dự kiến cả năm, nhập khẩu tiếp tục thấp
Sản lượng sò điệp khai thác nội địa Mỹ lũy kế đến hết tháng 9 đã vượt mức sản lượng dự kiến cho cả năm và cao hơn cùng kỳ hai mùa trước. Riêng tháng 9 đạt lượng khai thác cao nhất của tháng này trong ba năm. Trong khi đó, lượng sò điệp nhập khẩu đến hết tháng 8 thấp hơn đáng kể so với năm trước. Nguồn hàng trong nước đang đóng vai trò chủ đạo trong cung ứng, nhưng quy cách và cỡ sò điệp vẫn phân hóa.
3. Mỹ điều chuyển 200 tấn hạn mức khai thác cá tuyết Thái Bình Dương tại Alaska
Ngày 21/10, cơ quan quản lý nghề cá Mỹ điều chuyển 200 tấn cá tuyết Thái Bình Dương chưa sử dụng từ nhóm tàu lưới kéo sang nhóm tàu sử dụng bẫy tại khu vực phía tây vịnh Alaska. Hạn mức của nhóm lưới kéo giảm từ 1.956 xuống 1.756 tấn, trong khi nhóm dùng bẫy tăng từ 2.880 lên 3.080 tấn. Đây là điều chỉnh phân bổ trong tổng hạn mức năm 2026, không phải quyết định tăng hạn ngạch toàn vùng.
4. Thương hiệu thủy sản đông lạnh tại Mỹ mở rộng phân phối trên toàn quốc
Monarch Trading công bố đưa thương hiệu Sovereign Seas vào hệ thống phân phối toàn quốc, hướng đến bán lẻ và dịch vụ ăn uống. Danh mục gồm giáp xác, nhuyễn thể, mực – bạch tuộc, sản phẩm phối trộn và hàng chế biến giá trị gia tăng. Doanh nghiệp nhấn mạnh truy xuất nguồn gốc và tính minh bạch của chuỗi cung ứng. Đây là tín hiệu về nhu cầu phát triển sản phẩm có hồ sơ xuất xứ rõ ràng trong kênh phân phối thủy sản đông lạnh Mỹ.
5. Giá trị thủy sản khai thác của EU năm 2025 đạt 5,5 tỷ euro
Số liệu thống kê mới công bố cho thấy đội tàu EU đưa lên bờ 3,3 triệu tấn thủy sản trong năm 2025, tăng từ 3,2 triệu tấn năm 2024, nhưng giá trị gần như không đổi ở mức 5,5 tỷ euro. Tây Ban Nha chiếm 30,6% giá trị khai thác; Pháp chiếm 17,6%. Đội tàu EU còn 68.318 chiếc, giảm 13,3% trong một thập kỷ, phản ánh xu hướng thu hẹp năng lực khai thác dài hạn.
6. Ngành khai thác EU phản đối việc Chiến lược 2040 chưa cam kết sửa chính sách nghề cá chung
Các tổ chức đại diện nghề cá châu Âu bày tỏ quan ngại rằng tầm nhìn phát triển nghề cá và nuôi trồng đến năm 2040 chưa đưa ra cam kết sửa đổi có mục tiêu đối với Chính sách Nghề cá chung (CFP). Các tổ chức cho rằng khung quản lý hiện hành cần được điều chỉnh để giải quyết những khó khăn về thu nhập, đầu tư và năng lực cạnh tranh. Đây là phản ứng chính sách, chưa phải thay đổi quy định khai thác hay nhập khẩu có hiệu lực ngay.
7. Xuất khẩu thủy sản Nga sang Trung Quốc tăng 53% về giá trị trong 9 tháng
Trong 9 tháng đầu năm 2026, Nga xuất sang Trung Quốc 1,07 triệu tấn thủy sản, tăng 17% so với cùng kỳ; kim ngạch vượt 3,58 tỷ USD, tăng 53%. Tốc độ tăng giá trị cao hơn nhiều so với khối lượng cho thấy giá trị bình quân và cơ cấu hàng xuất khẩu đã thay đổi rõ rệt. Các nhóm đóng góp chính gồm cá minh thái, cá tuyết, cua, cá trích và bột cá.
8. Cá minh thái Nga xuất sang Trung Quốc tăng 78% về giá trị
Lượng cá minh thái đông lạnh bỏ đầu của Nga xuất sang Trung Quốc đạt 541.000 tấn trong 9 tháng, tăng 25%; kim ngạch vượt 1 tỷ USD, tăng 78%. Cá tuyết đông lạnh bỏ đầu đạt 72.000 tấn, tăng 21%, trị giá 577 triệu USD, tăng 71%. Xu hướng này phản ánh nhu cầu nhập nguyên liệu và mặt bằng giá cao của các loài cá thịt trắng phục vụ chế biến, tái xuất và tiêu dùng tại Trung Quốc.
9. Trung Quốc tăng nhập cua sống và cua đông lạnh từ Nga
Trong 9 tháng, Nga xuất sang Trung Quốc 33.000 tấn cua sống, tăng 21%, trị giá 976 triệu USD, tăng 34%. Cua đông lạnh đạt khoảng 5.000 tấn, tăng 50% về lượng và 93% về giá trị, lên 108 triệu USD. Tăng trưởng đồng thời ở hai phân khúc cho thấy nhu cầu nhập cua của Trung Quốc vẫn mạnh, trong khi giá trị bình quân cua đông lạnh tăng đáng kể.
10. Nga xuất 104.000 tấn bột cá sang Trung Quốc, trị giá 242 triệu USD
Lượng bột cá Nga xuất sang Trung Quốc trong 9 tháng đầu năm đạt 104.000 tấn, kim ngạch 242 triệu USD, tăng 53% về giá trị so với cùng kỳ. Giá trị xuất khẩu tăng trong bối cảnh thị trường bột cá thế giới biến động mạnh và nguồn cung Peru bị hạn chế. Đây là số liệu thương mại mới công bố, không phải báo giá giao ngay tại các cảng Trung Quốc.
11. Sản lượng cá trích Thái Bình Dương của Nga vượt cả năm 2025
Đến ngày 19/10, Nga khai thác 588.700 tấn cá trích Thái Bình Dương, vượt mức 580.000 tấn của cả năm 2025. Sản lượng cao hơn cùng kỳ khoảng một phần ba và chiếm gần 15% tổng lượng thủy sản khai thác của Nga. Nếu nhịp độ duy trì, sản lượng năm nay có thể vượt 600.000 tấn. Nguồn cá trích dồi dào tạo điều kiện mở rộng cung ứng hàng đông lạnh và nguyên liệu chế biến.
Đến ngày 18/10, sản lượng cá mòi iwashi lũy kế tại tiểu vùng Primorye đạt 2.125 tấn. Trong tuần gần nhất, bốn tàu hoạt động ở các vịnh Ussuri và Amur khai thác 579 tấn cá mòi cùng 14 tấn cá thu. Sản lượng bình quân đạt 21,4 tấn mỗi tàu mỗi ngày, dao động từ 5,8 đến 34,3 tấn. Hoạt động khai thác vẫn tập trung ở phạm vi hẹp, chưa cho thấy nguồn cung tăng mạnh.
12. Indonesia công bố sản lượng thủy sản 9 tháng đạt 19,89 triệu tấn
Sản lượng thủy sản Indonesia đến hết quý III/2026 đạt 19,89 triệu tấn, sau mức 26,25 triệu tấn của cả năm 2025. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản đến hết tháng 8 đạt 4,23 tỷ USD, so với 6,27 tỷ USD của cả năm 2025. Chính phủ tiếp tục ưu tiên nuôi tôm tập trung, cải tạo vùng nuôi ven biển phía bắc Java, phát triển nuôi thủy sản nội địa và hiện đại hóa đội tàu. Các mốc thời gian thống kê khác nhau nên không so trực tiếp để tính tăng trưởng.