(vasep.com.vn) Việc Liên minh châu Âu (EU) và Ấn Độ công bố hoàn tất đàm phán Hiệp định thương mại tự do (FTA) cuối tháng 1/2026 đang mở ra một giai đoạn cạnh tranh mới trên thị trường thủy sản châu Âu. Trong đó, ngành cá ngừ Việt Nam – vốn coi EU là thị trường quan trọng cho các dòng sản phẩm loin và cá ngừ chế biến – có thể đối mặt rủi ro “xói mòn ưu đãi”, khi một đối thủ lớn về nguồn nguyên liệu và năng lực chế biến như Ấn Độ được mở cánh cửa thuế quan rộng hơn.

Thuế 0% cho các sản phẩm hải sản, lợi thế cạnh tranh mới của Ấn Độ
Theo thông tin Reuters, FTA giữ EU–Ấn Độ dự kiến đưa thuế nhập khẩu của EU về 0% đối với nhiều nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Ấn Độ, trong đó có các sản phẩm hải sản, hiện chịu thuế tới khoảng 26%. Song song, phía EU cũng công bố thỏa thuận sẽ loại bỏ/giảm thuế ở quy mô rất lớn trên tổng giao dịch hàng hóa giữa hai bên, nhằm tạo thêm động lực thương mại và đa dạng chuỗi cung ứng.
Với ngành cá ngừ, “điểm rơi” cạnh tranh thường nằm ở giá thành sau thuế đối với các dòng loin cá ngừ hay loin cá ngừ hấp và sản phẩm phục vụ chế biến, đóng hộp – những phân khúc nhạy cảm với chênh lệch thuế vài %. Khi Ấn Độ được kéo thuế về 0% cho nhóm hải sản, lợi thế giá của nước này tại EU sẽ rõ rệt hơn, đặc biệt trong bối cảnh EU và Ấn Độ đều kỳ vọng thỏa thuận tạo cú hích thương mại hai chiều trong thời gian tới.
Lợi thế EVFTA của Việt Nam bị thu hẹp
Hiện Việt Nam đã có Hiệp định Thương mại Tự do với EU (gọi tắt EVFTA), trong đó cá ngừ là một nhóm hàng được thiết kế lộ trình giảm thuế và có hạn ngạch ưu đãi thuế (TRQ). Cụ thể, cá ngừ đóng hộp được hưởng hạn ngạch miễn thuế 11.500 tấn/năm, và một số dòng loin/thịt cá ngừ có lộ trình giảm thuế về 0% theo thời gian.
Tuy nhiên, lợi thế EVFTA phát huy mạnh nhất khi các đối thủ vẫn chịu thuế theo tối huệ quốc (MFN) tương đối cao. Khi Ấn Độ có FTA với EU và được đưa nhiều dòng thủy sản về 0%, “khoảng cách ưu đãi” giữa Việt Nam và Ấn Độ tại EU sẽ thu hẹp. Do đó, đơn hàng dễ dịch chuyển sang nhà cung cấp có giá tốt hơn trong cùng phân khúc. Áp lực giảm giá lên sản phẩm cá ngừ Việt Nam tăng, nhất là với các đơn hàng gia công, loin cá ngừ, cá ngừ đóng hộp… Lợi thế ưu đãi thuế quan theo hạn ngạch 11.500 tấn cá ngừ đóng hộp của Việt Nam có thể giảm giá trị tương đối, do người mua EU có thêm lựa chọn được ưu đãi tương tự hoặc gần tương tự từ Ấn Độ.

Cạnh tranh không chỉ ở thuế
Trong thương mại cá ngừ vào EU, thuế quan chỉ là một vế. Vế còn lại là tuân thủ – truy xuất – rủi ro pháp lý, bao gồm các yêu cầu liên quan đến chống khai thác bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU). Thực tế, trong các trao đổi cấp cao gần đây giữa EU và Việt Nam, phía Việt Nam tiếp tục kêu gọi EU hỗ trợ hướng tới gỡ “thẻ vàng” IUU.
Khi cạnh tranh về thuế gia tăng do Ấn Độ được ưu đãi, bất kỳ “độ vênh rủi ro” nào trong đánh giá của nhà nhập khẩu EU cũng có thể trở thành lý do để họ tái cơ cấu nguồn cung. Nói cách khác, nếu hai nhà cung cấp có mức thuế tương đương, nhà mua EU sẽ càng ưu tiên bên có hồ sơ tuân thủ “dễ thở” hơn về mặt kiểm soát rủi ro.
Cạnh tranh tại phân khúc loin cá ngừ và cá ngừ đóng hộp gay gắt hơn
Ấn Độ có lợi thế lớn về nguồn nguyên liệu và khả năng tham gia chuỗi cung ứng cá ngừ phục vụ chế biến. Khi các sản phẩm thuỷ sản NK vào EU được hưởng mức thuế 0%, Ấn Độ có thể tăng sức cạnh tranh ở các nhóm hàng mà Việt Nam đang tập trung đẩy sang EU nhờ EVFTA, như loin cá ngừ đông lạnh hay loin cá ngừ hấp đông lạnh- nguyên liệu cho đồ hộp, một phần hàng chế biến.
Điều này cho phép các nhà NK EU trong ngắn hạn có thể “đa dạng” nguồn cung để tối ưu giá và giảm rủi ro đứt gẫy nguồn cung. Do đó, các nhà cung cấp hiện hữ có thể bị giảm thị phần, trong đó có Việt Nam.
Nếu FTA giữ EU và Ấn Độ triển khai đúng lộ trình, giai đoạn 2026 – 2027 sẽ là thời điêm các nhà NK EU tái cấu trúc nguồn cung và các DN Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn để giữ thị phần tại khối thị trường này. Do đó, DN cần phải xây dựng các chiến lược phù hợp ngay từ bây giờ.