Xuất khẩu tôm Việt Nam trước những biến động thị trường cuối năm

(vasep.com.vn) Xuất khẩu tôm Việt Nam đạt 3,7 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm 2026, tăng 11% so với cùng kỳ năm ngoái. Dù duy trì tăng trưởng nhờ thị trường Trung Quốc và một số thị trường trong khối CPTPP, đà tăng đang chậm lại khi xuất khẩu sang Mỹ và EU suy giảm. Áp lực thuế quan, cạnh tranh quốc tế cùng những khó khăn về nguyên liệu đang đặt ra không ít thách thức cho doanh nghiệp trong những tháng cuối năm.

Trung Quốc dẫn dắt tăng trưởng, Mỹ và EU tiếp tục suy giảm

Theo số liệu Hải quan Việt Nam, tháng 9/2026, xuất khẩu tôm đạt 467,9 triệu USD, tăng 4% so với cùng kỳ nhưng giảm nhẹ so với tháng 8. Lũy kế 9 tháng đạt 3,7 tỷ USD, tăng 11%. So với mức tăng 14% trong 6 tháng đầu năm, tốc độ tăng trưởng đang chậm lại.

Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất, đạt gần 1,2 tỷ USD, tăng 37%, chiếm 33% tổng kim ngạch. Nếu tính cả Hồng Kông, xuất khẩu đạt 1,3 tỷ USD, tăng 35%. Nhu cầu đối với tôm hùm, đặc biệt là tôm hùm xanh, tiếp tục đóng góp đáng kể vào kết quả này.

Trong khi đó, xuất khẩu sang Mỹ chỉ đạt 498 triệu USD, giảm 15%; riêng tháng 9 giảm tới 32%. EU cũng giảm 4,9%, đạt 406,4 triệu USD, trong đó tháng 9 giảm 12,5%.

Ở chiều tích cực, Nhật Bản đạt 440,9 triệu USD, tăng 6,4%; Australia đạt 211,9 triệu USD, tăng 18,5%; Canada đạt 130,5 triệu USD, tăng 11%. Xuất khẩu sang khối CPTPP đạt hơn 1 tỷ USD, tăng 10,2%, góp phần giảm bớt tác động từ sự suy giảm tại Mỹ và EU.

Xét theo sản phẩm, tôm chân trắng vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất với 2,31 tỷ USD, tăng 5,9%; tôm sú đạt 360,3 triệu USD, tăng 7,3%. Đáng chú ý, nhóm tôm loại khác đạt 1,08 tỷ USD, tăng 25,4%, trong đó các sản phẩm sống, tươi và đông lạnh tăng 34,8%.

Cơ cấu xuất khẩu cho thấy tăng trưởng đang phụ thuộc đáng kể vào thị trường Trung Quốc và nhóm tôm loại khác, trong khi tôm chân trắng – sản phẩm chủ lực của ngành chế biến xuất khẩu – tăng trưởng tương đối chậm. 

Nguồn cung nguyên liệu tăng nhưng chi phí sản xuất còn cao

Theo số liệu của Cục Thủy sản và Kiểm ngư, ở trong nước, sản xuất tôm nước lợ tiếp tục duy trì kết quả tích cực. Trong 9 tháng đầu năm, sản lượng đạt hơn 1,07 triệu tấn, bằng 76,6% kế hoạch năm; trong đó tôm thẻ chân trắng đạt 791.400 tấn và tôm sú đạt 281.500 tấn. Để hoàn thành mục tiêu 1,4 triệu tấn, quý IV cần sản xuất thêm khoảng 327.200 tấn.

Tuy nhiên, ngành nuôi tôm vẫn đối mặt với nhiều khó khăn. Chi phí thức ăn, con giống, điện và xử lý môi trường duy trì ở mức cao, trong khi giá tôm nguyên liệu biến động, ảnh hưởng đến lợi nhuận và quyết định tái thả nuôi. Dịch bệnh, đặc biệt là EHP, đốm trắng và hoại tử gan tụy cấp, tiếp tục gây rủi ro cho sản xuất.

Đối với doanh nghiệp chế biến, vấn đề không chỉ là tổng sản lượng mà còn là khả năng bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định về chất lượng, kích cỡ và giá thành. Khi cạnh tranh xuất khẩu gay gắt, chi phí nguyên liệu cao có thể làm giảm lợi thế về giá của tôm Việt Nam so với Ecuador và Ấn Độ.

Thị trường Mỹ: Áp lực thuế quan và cạnh tranh tiếp tục đè nặng

Xuất khẩu tôm sang Mỹ tiếp tục chịu sức ép từ chính sách thuế thương mại, trong đó có thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp và những điều chỉnh về thuế nhập khẩu. Những yếu tố này, cùng với sức mua chưa phục hồi rõ rệt và sự cạnh tranh từ các nguồn cung lớn như Ecuador, Ấn Độ, đang ảnh hưởng đến khả năng duy trì đơn hàng và lợi thế về giá của tôm Việt Nam.

Đặc biệt, kết quả cuối cùng kỳ rà soát thuế chống bán phá giá POR20 dự kiến công bố trong tháng 11/2026 tiếp tục là yếu tố được doanh nghiệp và nhà nhập khẩu quan tâm. Những bất định về chi phí nhập khẩu có thể khiến người mua thận trọng hơn trong ký kết hợp đồng, đàm phán giá và xây dựng kế hoạch mua hàng cho các tháng cuối năm cũng như đầu năm 2027.

Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp xuất khẩu cần chủ động tính toán hiệu quả từng đơn hàng, kiểm soát chi phí và điều kiện hợp đồng, đồng thời duy trì quan hệ với khách hàng truyền thống, phát triển sản phẩm chế biến sâu và mở rộng thị trường nhằm giảm thiểu rủi ro.

Quý IV khó bứt phá mạnh

Bước vào quý IV, nhu cầu nhập khẩu phục vụ các dịp lễ cuối năm và Tết tại thị trường châu Á được kỳ vọng tiếp tục hỗ trợ xuất khẩu tôm Việt Nam. Trung Quốc, Nhật Bản, Australia và Canada có thể duy trì vai trò tích cực, trong khi triển vọng tại Mỹ và EU vẫn chịu tác động từ sức mua, tồn kho và chính sách thương mại.

Với kết quả đạt được trong 9 tháng đầu năm, ngành tôm Việt Nam có cơ sở để kỳ vọng hoàn thành kế hoạch xuất khẩu năm 2026. Tuy nhiên, triển vọng những tháng cuối năm vẫn phụ thuộc đáng kể vào nhu cầu từ thị trường Trung Quốc, diễn biến chính sách thuế tại Mỹ và khả năng duy trì nguồn cung nguyên liệu ổn định với giá cạnh tranh.

Trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động, ưu tiên của doanh nghiệp không chỉ là duy trì kim ngạch xuất khẩu mà còn phải bảo đảm hiệu quả đơn hàng, kiểm soát chi phí và hạn chế rủi ro thương mại. Về dài hạn, nâng cao hiệu quả sản xuất, phát triển sản phẩm giá trị gia tăng và đa dạng hóa thị trường tiếp tục là những yếu tố quan trọng giúp ngành tôm Việt Nam củng cố sức cạnh tranh và duy trì tăng trưởng bền vững.

Chia sẻ:


Kim Thu
Chuyên gia thị trường Tôm
Email: kimthu@vasep.com.vn
Điện thoại 024. 37715055 – ext.203

Bình luận bài viết

Tin liên quan
Tin cùng chuyên mục
  • bc_tom
  • Báo cáo ngành tôm