5 tháng đầu năm 2026: Xuất khẩu thủy sản tăng trưởng tích cực, nhưng đơn hàng nửa cuối năm còn nhiều biến số

(vasep.com.vn) Tháng 5/2026, XK thủy sản Việt Nam đạt 1,02 tỷ USD, tăng nhẹ 0,6%. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu thủy sản đạt 4,67 tỷ USD, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2025. Mức tăng hai con số cho thấy ngành thủy sản vẫn giữ được đà phục hồi, nhưng phía sau kết quả này là một bức tranh không hoàn toàn thuận lợi: đơn hàng thận trọng hơn, thị trường phân hóa rõ hơn và yêu cầu tuân thủ ngày càng trở thành điều kiện then chốt để giữ khách hàng.

Tôm tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu lớn nhất, đạt 1,9 tỷ USD, tăng 11,5%, chiếm khoảng 40,4% tổng kim ngạch thủy sản. Đà tăng của tôm trong 5 tháng đầu năm đến từ sự phục hồi của một số thị trường châu Á, nhu cầu với nhóm sản phẩm chế biến và xuất khẩu tôm hùm sang Trung Quốc. Tuy nhiên, triển vọng tôm trong nửa cuối năm không chỉ nhìn ở con số tăng trưởng hiện tại, mà còn phụ thuộc vào khả năng xử lý những điểm nghẽn đang xuất hiện trong sản xuất và đơn hàng.

Một vấn đề đáng chú ý là sự lệch pha giữa sản xuất trong nước và nhu cầu nhập khẩu. Tại nhiều địa phương, người nuôi có xu hướng chuyển sang nuôi tôm cỡ lớn để tối ưu giá trị trên mỗi đơn vị sản lượng. Trong khi đó, một số thị trường lớn lại tăng nhu cầu đối với tôm cỡ nhỏ, phù hợp hơn với phân khúc tiêu dùng tiết kiệm. Sự lệch pha này có thể ảnh hưởng đến tốc độ ký kết đơn hàng, cơ cấu quy cách sản phẩm và kế hoạch thu mua nguyên liệu của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tôm Việt Nam vẫn chịu áp lực lớn về giá thành, cạnh tranh gay gắt với Ecuador, Ấn Độ, Indonesia và các biện pháp phòng vệ thương mại tại Hoa Kỳ, nhất là thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp và các kỳ rà soát hành chính.

Với cá tra, xuất khẩu 5 tháng đạt 905 triệu USD, tăng 12,6%. Đây là một trong những nhóm hàng có nền tảng tương đối thuận lợi nhờ nguồn cung ổn định, giá phù hợp với xu hướng tiêu dùng tiết kiệm và dư địa tại Trung Quốc, ASEAN, Trung Đông, EU cùng một số thị trường mới. Trong bối cảnh người tiêu dùng tại nhiều nước vẫn ưu tiên sản phẩm có giá hợp lý, cá tra tiếp tục có cơ hội duy trì vị thế trong nhóm cá thịt trắng.

Tuy nhiên, áp lực đối với cá tra đang tăng từ phía sản xuất. Giá cá giống duy trì ở mức cao từ năm 2025 đến nay, cộng với chi phí thức ăn, vận chuyển và các chi phí đầu vào khác, khiến nhiều hộ nuôi thận trọng hơn khi mở rộng diện tích. Nếu xu hướng này kéo dài, chi phí nuôi có thể tiếp tục tăng, tạo sức ép lên giá thành nguyên liệu và biên lợi nhuận của doanh nghiệp chế biến xuất khẩu. Về thị trường, Trung Quốc đang có tín hiệu mua trở lại sau giai đoạn chững lại, nhưng nhu cầu hiện tập trung nhiều hơn vào cá cỡ lớn. Trong khi đó, xuất khẩu sang Hoa Kỳ vẫn đối mặt với thuế chống bán phá giá, các biện pháp điều tra thương mại và yêu cầu cao về truy xuất, chất lượng, tuân thủ.

Một cơ hội đáng chú ý cho cá tra là diễn biến nguồn cung cá thịt trắng thế giới. Sản lượng cá minh thái giảm khoảng 30%, trong khi chi phí nhiên liệu tăng mạnh làm giá nguyên liệu tăng 30–50%. Điều này khiến nhà nhập khẩu lo ngại thiếu nguồn cung và có xu hướng dịch chuyển một phần nhu cầu sang các loài cá nuôi có nguồn cung ổn định hơn. Cá tra Việt Nam cùng với cá rô phi có cơ hội hưởng lợi, nếu duy trì được nguồn nguyên liệu, kiểm soát chất lượng vùng nuôi và giữ được lợi thế cạnh tranh về giá.

Trái với tôm và cá tra, XK cá ngừ giảm 6%, đạt 372 triệu USD. Đây là nhóm hàng chịu sức ép rõ nhất từ tình trạng thiếu nguyên liệu trong nước và các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc. Các quy định của Hoa Kỳ về bảo vệ động vật biển có vú, chương trình kiểm soát nhập khẩu thủy sản, cùng quy định chống khai thác bất hợp pháp của EU đang làm tăng chi phí tuân thủ, kéo dài thời gian chuẩn bị hồ sơ và ảnh hưởng đến khả năng ký kết đơn hàng.

Nhóm hải sản khác có tín hiệu tích cực hơn, nhưng cũng chưa hết rủi ro. Mực, bạch tuộc đạt 304 triệu USD, tăng 18%; cua ghẹ và giáp xác khác đạt 160 triệu USD, tăng 19%; nhuyễn thể có vỏ đạt 122 triệu USD, tăng 22,8%. Các nhóm hàng này có cơ hội tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Hoa Kỳ và EU, nhất là với sản phẩm chế biến, tiện lợi và giá trị cao. Nhưng điểm yếu lớn nhất vẫn là phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu khai thác và nguyên liệu nhập khẩu hợp pháp. Chi phí nhiên liệu tăng, logistics cao và yêu cầu chứng nhận nguồn gốc ngày càng chặt đang tác động trực tiếp đến sản lượng, giá nguyên liệu và tiến độ giao hàng.

Về thị trường, Trung Quốc và Hồng Kông là động lực tăng trưởng lớn nhất, đạt 1,2 tỷ USD, tăng 40,5%. Nhu cầu tăng đối với tôm, cá tra, cua, nhuyễn thể và một số hải sản giá trị cao đã hỗ trợ đáng kể cho xuất khẩu. Tuy nhiên, thị trường này đang chuyển nhanh sang nhập khẩu chính ngạch, kiểm soát chặt hơn về chất lượng, an toàn sinh học, đăng ký doanh nghiệp, mã số vùng nuôi và truy xuất nguồn gốc. Lệnh 280 có hiệu lực từ ngày 1/6/2026, thay thế Lệnh 248, là dấu hiệu rõ ràng cho thấy tăng trưởng tại Trung Quốc phải đi cùng chuẩn hóa xuất khẩu.

Ngược lại, Hoa Kỳ giảm 10%, đạt 689 triệu USD; EU giảm 2,2%, đạt 435,6 triệu USD. Đây là hai thị trường có sức ép lớn về thuế, phòng vệ thương mại, truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm, chống khai thác bất hợp pháp và phát triển bền vững. Trong khi đó, Nhật Bản tăng nhẹ 0,4%, Hàn Quốc tăng 4%, ASEAN tăng 16,8%, tiếp tục là các thị trường giúp doanh nghiệp phân tán rủi ro.

Từ kết quả 5 tháng đầu năm, VASEP dự báo xuất khẩu thủy sản năm 2026 có thể đạt mức tăng trưởng khoảng 8–10%, kim ngạch trên 12 tỷ USD, nếu Trung Quốc tiếp tục duy trì nhu cầu tốt, cá tra giữ được lợi thế giá, tôm cải thiện khả năng cạnh tranh, nhóm hải sản tháo gỡ được vướng mắc về IUU, chứng nhận nguyên liệu và truy xuất. Ngược lại, nếu chi phí tuân thủ, logistics, phòng vệ thương mại và thiếu nguyên liệu kéo dài, tăng trưởng nửa cuối năm sẽ chậm lại, nhất là với tôm, cá ngừ, mực, bạch tuộc, cua ghẹ và các nhóm hải sản khai thác.

 

Chia sẻ:


Lê Hằng
Phó Tổng Thư ký Hiệp hội
Email: lehang@vasep.com.vn
Điện thoại 024. 37715055 - ext.204

Bình luận bài viết

Tin liên quan
Tin cùng chuyên mục