(vasep.com.vn) Mức thuế bổ sung theo Mục 301 tạo thêm một yếu tố cần tính toán đối với tôm Việt Nam tại thị trường Mỹ, nhất là khi một số nguồn cung cạnh tranh được áp dụng mức thuế thấp hơn. Tuy nhiên, chính sách mới không đồng nghĩa với việc nhu cầu thị trường thu hẹp ngay. Diễn biến nhập khẩu và cơ cấu sản phẩm cho thấy Mỹ vẫn còn dư địa đối với tôm chế biến, sản phẩm tiện lợi và các phân khúc có sự khác biệt.

Ngày 23/7/2026, Tổng thống Hoa Kỳ ban hành Bản ghi nhớ về các hành động theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974 đối với 60 nền kinh tế liên quan đến việc chưa ban hành hoặc chưa thực thi hiệu quả quy định cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất toàn bộ hoặc một phần bằng lao động cưỡng bức.
Theo quyết định cuối cùng của Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR), hàng hóa Việt Nam thuộc nhóm chịu mức thuế bổ sung 12,5%, trừ các sản phẩm và trường hợp được miễn theo danh mục kèm theo. Biện pháp có hiệu lực đối với hàng hóa nhập khẩu để tiêu dùng hoặc rút khỏi kho để tiêu dùng từ 0 giờ 01 phút ngày 24/7/2026 theo giờ miền Đông Hoa Kỳ. Trong khi đó, hàng hóa từ Ecuador, Ấn Độ và Indonesia – ba nguồn cung tôm cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam – được áp dụng mức 10%.
Đối với từng lô hàng tôm, doanh nghiệp và nhà nhập khẩu cần đối chiếu cụ thể mã HTSUS, xuất xứ, thời điểm nhập khẩu và danh mục miễn trừ để xác định nghĩa vụ thuế. Cũng cần phân biệt rằng biện pháp này được Hoa Kỳ áp dụng trên cơ sở đánh giá chính sách của các nền kinh tế được điều tra, không phải là kết luận rằng từng sản phẩm tôm Việt Nam được sản xuất bằng lao động cưỡng bức.
Số liệu nhập khẩu tôm của Mỹ và xuất khẩu tôm Việt Nam sang Mỹ trong nửa đầu năm nay như thế nào, chênh lệch thuế giữa Việt Nam và các nguồn cung đối thủ có thể làm thay đổi tương quan cạnh tranh không, xuất khẩu tôm Việt Nam sang Mỹ còn những dư địa nào có thể tận dụng và doanh nghiệp phải thích ứng ra sao để duy trì được vị thế. Tất cả thông tin có tại bài viết đầy đủ được đăng tải trong Bản tin số 28 phát hành ngày 31/7/2026. Vui lòng đăng ký Bản tin tại đây.