(vasep.com.vn) Ngày 15/9/2026, Hiệp hội VASEP đã gửi công văn số 141/CV-VASEP tới Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Cục Thủy sản và Kiểm ngư về việc góp ý Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều về thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh tại Nghị định số 41/2026/NĐ-CP.

Hiệp hội VASEP và các doanh nghiệp thủy sản trân trọng cám ơn và đánh giá cao Bộ NNMT, Cục Thủy sản và Kiểm ngư và Ban soạn thảo đã sớm xây dựng Dự thảo Nghị định để thể chế hóa các phương án cắt giảm, phân cấp, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện đầu tư kinh doanh theo Nghị quyết số 17/2026/NQ-CP ngày 29/4/2026 và Nghị quyết số 66.19/NQ-CP ngày 18/5/2026 của Chính phủ.
Hiệp hội VASEP cơ bản thống nhất với các nội dung Dự thảo đang sửa đổi, bổ sung tại Điều 12, Điều 17, Điều 21 và bãi bỏ các điều kiện, thủ tục theo phương án đã được Chính phủ phê duyệt. Bên cạnh đó, qua thực tiễn triển khai Nghị định số 41/2026/NĐ-CP, các doanh nghiệp hải sản đang gặp một số vướng mắc phát sinh trực tiếp từ quy định tại Điều 25 và Điều 51 của Nghị định. Đây là các quy định có ảnh hưởng trực tiếp đến tính hợp pháp của nguyên liệu khai thác trong nước và thủ tục kiểm soát nguyên liệu thủy sản khai thác nhập khẩu.
Bất cập trong quy định phân vùng khai thác và quản lý hoạt động tàu cá (Điều 24, Điều 25)
Theo khoản 1 Điều 24, vùng ven bờ đối với các đảo được giới hạn từ ngấn nước thủy triều trung bình nhiều năm quanh bờ biển của đảo đến 06 hải lý. Trong khi đó, khoản 1 Điều 25 phân vùng hoạt động của tàu cá theo chiều dài lớn nhất: tàu từ 15 mét trở lên hoạt động tại vùng khơi; tàu từ 12 mét đến dưới 15 mét hoạt động tại vùng lộng; và tàu dưới 12 mét hoạt động tại vùng ven bờ.
Thực tế triển khai cho thấy quy định này phát sinh bất cập tại các khu vực có đảo xa đất liền. Nhiều tàu cá hoạt động ở ngư trường thuộc vùng lộng hoặc vùng khơi nếu tính từ đất liền, nhưng do ở gần một đảo nhỏ giữa biển nên bị quy về "vùng bờ" của đảo. Hậu quả là tàu bị xác định sai vùng và bị từ chối cấp Biên bản bốc dỡ cũng như Giấy xác nhận nguyên liệu thủy sản khai thác (Giấy S/C), dù tàu không tiếp cận bờ biển đất liền và không vi phạm bản chất bảo vệ nguồn lợi ven bờ. Tương tự, các tàu hậu cần/chuyển tải khi ghé gần đảo để tránh trú bão hoặc thu gom sản phẩm cũng gặp vướng mắc về xác định vùng hoạt động.
Ngoài ra, việc phân vùng thuần túy theo chiều dài lớn nhất của tàu chưa phản ánh đúng đặc thù kỹ thuật và ngư trường thực tế:
- Tàu trên 15 mét nhưng thân hẹp (chiều rộng chỉ 3,2–4,5 m): Trọng tải và khả năng chịu sóng gió (cấp 5–6) hạn chế, không phù hợp để hoạt động dài ngày tại vùng khơi, trong khi đối tượng khai thác truyền thống lại tập trung ở vùng lộng.
- Mô hình lưới đôi: Tàu phụ có chiều dài dưới 15 mét chỉ hỗ trợ kéo lưới/cáp, không trực tiếp khai thác nhưng vẫn bị áp thủ tục xuất bến, cập cảng và đối chiếu chiều dài cơ học như tàu chính, dẫn đến rủi ro nguyên liệu cả chuyến biển bị loại trừ.
Đề xuất của VASEP: Đề nghị rà soát lại cách xác định khoảng cách 06 hải lý đối với các đảo xa bờ; đồng thời điều chỉnh cơ chế phân vùng hoạt động ngoài tiêu chí chiều dài tàu cần kết hợp thêm các yếu tố về nghề/ngư cụ, đối tượng khai thác, mùa vụ và ngư trường.
Sửa đổi quy định đối với tàu dịch vụ hậu cần thủy sản (khoản 2 Điều 25)
Khoản 2 Điều 25 hiện quy định tàu hậu cần từ 15 mét trở lên chỉ được chuyển tải tại vùng khơi; tàu từ 12 mét đến dưới 15 mét tại vùng lộng; và tàu dưới 12 mét tại vùng ven bờ.
Quy định không cho phép thu mua sai vùng khiến toàn bộ nguyên liệu thu gom trên chuyến biển bị coi là vi phạm và bị từ chối cấp S/C nếu tàu hậu cần bị xác định "hoạt động sai vùng", mặc dù các tàu khai thác nguồn không vi phạm. Thực tế, phần lớn tàu hậu cần đều có chiều dài trên 15 mét; quy định bắt buộc tàu hậu cần trên 15 mét chỉ được thu mua của tàu khai thác trên 15 mét tại vùng khơi là chưa phù hợp với mô hình tổ chức sản xuất xa bờ.
Đề xuất của VASEP: Đề nghị sửa đổi khoản 2 Điều 25 theo hướng:
- Tàu hậu cần từ 15 mét trở lên được hoạt động chuyển tải thủy sản đảm bảo nguyên liệu tuân thủ quy định IUU.
- Tàu hậu cần từ 12 mét đến dưới 15 mét không được hoạt động chuyển tải tại vùng khơi.
- Tàu hậu cần dưới 12 mét hoạt động tại vùng ven bờ không được hoạt động tại vùng lộng và vùng khơi.
Chấn chỉnh thủ tục cập cảng và phân định trách nhiệm hồ sơ (khoản 4 Điều 25)
Khoản 4 Điều 25 quy định nghĩa vụ cập cảng bốc dỡ đối với tàu cá từ 06 mét trở lên nhưng không ấn định thời hạn tối đa giữa hai lần cập cảng. Thực tế, cơ quan thực thi tại một số cảng tự đặt ra yêu cầu tàu phải cập cảng ít nhất một lần trong vòng "tối đa 6 tháng" mới xem xét hồ sơ xác nhận nguyên liệu. Bên cạnh đó, việc thời tiết, luồng lạch thay đổi buộc tàu phải cập cảng khác ngoài kế hoạch ban đầu cũng bị coi là bất hợp lý do thiếu cơ chế giải trình.
Đề xuất của VASEP:
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường có chỉ đạo chấn chỉnh, chấm dứt việc các cảng tự phát thêm điều kiện "tối đa 6 tháng" khi văn bản quy phạm pháp luật không quy định.
- Cho phép chủ tàu/doanh nghiệp giải trình bằng dữ liệu hệ thống giám sát hành trình (VMS), nhật ký khai thác và chứng từ giao nhận khi thay đổi cảng cập do lý do khách quan.
- Áp dụng nguyên tắc phân định trách nhiệm: chỉ loại trừ phần nguyên liệu thực sự vi phạm, không loại trừ toàn bộ lô hàng nếu dữ liệu cho phép tách bạch từng tàu nguồn.
- Kịp thời cập nhật dữ liệu xử phạt hành chính đã chấp hành xong lên Cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia (VNFishbase) để không làm ảnh hưởng đến các thủ tục tiếp theo.
Tinh giản thủ tục khai báo thủy sản nhập khẩu bằng container (Điều 51)
Theo Điều 51 và Mẫu số 22 Phụ lục II, doanh nghiệp nhập khẩu thủy sản bằng container phải khai báo chi tiết thông tin nguồn gốc. Với các lô hàng tổng hợp nguyên liệu từ 30 đến 80 tàu khai thác, khối lượng dữ liệu phải nhập có thể lên tới hàng trăm hoặc hơn 1.000 trường thông tin. Trong khi đó, chứng từ do nước xuất khẩu cấp nhiều trường hợp chỉ thể hiện ở cấp lô/chuyến/container, gây khó khăn cho việc kê khai thủ công.
Đề xuất của VASEP:
- Tinh gọn các trường thông tin bắt buộc tại Mẫu số 22, chỉ giữ lại các dữ liệu cốt lõi phục vụ quản lý IUU.
- Chỉ yêu cầu khai chi tiết từng tàu nếu thông tin có sẵn trên chứng từ gốc của nước xuất khẩu; trường hợp chứng từ thể hiện ở cấp lô/chuyến/container thì cho phép khai báo theo cấu trúc tương ứng.
- Bổ sung cơ sở pháp lý tiếp nhận dữ liệu điện tử theo chuẩn và cho phép kế thừa dữ liệu đã khai.
Đề xuất bổ sung 04 nhóm đối tượng loại trừ khai báo container nhập khẩu
Khoản 1 Điều 51 hiện mới chỉ loại trừ áp dụng khai báo đối với lô hàng mẫu dưới 50kg không dùng cho mục đích thương mại. VASEP đề xuất bổ sung thêm 04 nhóm đối tượng được miễn khai báo container nhập khẩu:
Lô hàng phụ phẩm thủy sản (trứng cá, dè mực...): Do phải thu gom từ nhiều lô nguyên liệu mới đủ một container nên việc đòi hỏi đầy đủ hồ sơ tàu nguồn từ nhà xuất khẩu là không khả thi.
Sản phẩm thuộc danh sách loại trừ Giấy chứng nhận nguồn gốc (C/C) của EU theo Quy định EC 1005/2008 (Phụ lục 1).
Lô hàng thuộc Phụ lục II Công ước CITES: Đã được kiểm soát nguồn gốc theo quy định CITES quốc tế và trong nước.
Hàng bao gói sẵn nhập khẩu để kinh doanh nội địa.
Hiệp hội VASEP và cộng đồng doanh nghiệp thủy sản trân trọng đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Cục Thủy sản và Kiểm ngư và Ban soạn thảo xem xét, tiếp thu các ý kiến góp ý nêu trên để Dự thảo Nghị định khi ban hành vừa bảo đảm mục tiêu quản lý nhà nước, kiểm soát chặt chẽ chống khai thác IUU, vừa bảo đảm tính khả thi, giảm thủ tục và chi phí tuân thủ cho ngư dân, doanh nghiệp, góp phần duy trì nguồn nguyên liệu hợp pháp cho chế biến, xuất khẩu thủy sản.
Chi tiết nội dung Công văn 141/CV-VASEP ngày 15/9/2026 của VASEP, xin xem tại đây