Mỹ chuẩn bị số hóa và mở rộng thông tin chứng nhận đối với thủy sản nhập khẩu

(vasep.com.vn) Các doanh nghiệp nhập khẩu Mỹ có thể sớm phải cung cấp thêm dữ liệu điện tử đối với những lô thủy sản thuộc diện Certification of Admissibility – COA. NOAA đề xuất chuyển dữ liệu từ biểu mẫu giấy sang khai báo điện tử trên hệ thống ACE của CBP, đồng thời điều chỉnh biểu mẫu để thu thập thêm thông tin về sản phẩm và nguồn khai thác. Thời hạn lấy ý kiến đối với thủ tục thu thập thông tin hiện kéo dài đến 24/8/2026.

Theo hướng đề xuất, các thông tin trên COA sẽ được chuẩn hóa và khai báo điện tử trong hệ thống hải quan ACE của Mỹ, thay vì chủ yếu nộp dưới dạng bản chứng từ điện tử như hiện nay.

Đề xuất này có thể làm tăng yêu cầu truy xuất nguồn gốc đối với một số lô thủy sản nhập khẩu, đặc biệt là sản phẩm có cùng nước xuất xứ và mã thuế quan với những mặt hàng bị Mỹ hạn chế theo Đạo luật Bảo vệ động vật có vú biển – MMPA hoặc các quy định liên quan đến khai thác bằng lưới rê trên biển khơi.

Theo thông báo đăng trên Công báo Liên bang Mỹ ngày 25/6/2026, NOAA đề nghị sửa đổi bộ hồ sơ thu thập thông tin mang mã kiểm soát OMB 0648-0651. Thời hạn để doanh nghiệp, hiệp hội và các bên liên quan gửi ý kiến là ngày 24/8/2026.

Đây hiện mới là thủ tục lấy ý kiến về việc sửa đổi phương thức thu thập dữ liệu, chưa phải quy định mới áp dụng ngay cho toàn bộ thủy sản nhập khẩu vào Mỹ.

Mỹ chuẩn bị số hóa và mở rộng thông tin chứng nhận đối với thủy sản nhập khẩu

COA không áp dụng cho mọi lô hàng

COA được sử dụng trong trường hợp Mỹ cấm nhập khẩu sản phẩm từ một nghề cá, phương thức khai thác hoặc khu vực khai thác cụ thể, nhưng cùng nước xuất xứ và cùng mã HTS vẫn có những sản phẩm hợp pháp không thuộc diện cấm.

Trong trường hợp này, COA có chức năng chứng minh lô hàng cụ thể:

  • Không có nguồn gốc từ nghề cá bị cấm;
  • Không sử dụng ngư cụ bị hạn chế;
  • Không được khai thác tại khu vực bị cấm;
  • Không thuộc loài hoặc nhóm sản phẩm nằm trong phạm vi hạn chế nhập khẩu.

NOAA xác định yêu cầu COA theo tổ hợp giữa nước xuất xứ và mã HTS của Mỹ. Khi một tổ hợp bị hệ thống ACE đánh dấu, nhà nhập khẩu phải nộp COA để chứng minh lô hàng không thuộc diện cấm.

Từ ngày 1/1/2026, sản phẩm từ các nghề cá không được NOAA cấp kết luận tương đương theo MMPA bị cấm nhập khẩu vào Mỹ. Những sản phẩm hợp pháp nhưng dùng chung mã HTS với sản phẩm bị cấm có thể phải kèm COA.

Chuyển từ chứng từ sang dữ liệu điện tử có cấu trúc

Theo cơ chế hiện nay, COA được cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu xác nhận. Nhà nhập khẩu Mỹ kiểm tra, ký xác nhận và tải bản sao chứng từ lên hệ thống ACE của Cơ quan Hải quan và Bảo vệ Biên giới Mỹ.

NOAA đề xuất bổ sung yêu cầu nhập từng trường dữ liệu trên COA vào bộ thông điệp điện tử của NMFS trong ACE. Dữ liệu khai báo phải đầy đủ, chính xác và khớp với nội dung trên chứng nhận.

Cơ chế này sẽ cho phép NOAA và CBP tự động đối chiếu nước xuất xứ, mã HTS, loài, ngư cụ, vùng khai thác và các thông tin liên quan trước khi quyết định thông quan, yêu cầu bổ sung hồ sơ hoặc từ chối nhập khẩu.

Các trường thông tin có thể bao gồm:

  • Mã loài theo hệ thống FAO ASFIS;
  • Dạng sản phẩm, khối lượng và số lượng;
  • Ngày và địa điểm cập bến, chuyển tải hoặc giao nhận;
  • Tên tàu, cơ sở chế biến hoặc đơn vị tiếp nhận;
  • Mã HTS 10 chữ số;
  • Loại ngư cụ và vùng khai thác;
  • Quốc gia treo cờ, tên và mã định danh tàu;
  • Tên, địa điểm cơ sở nuôi đối với thủy sản nuôi;
  • Số giấy phép thương mại thủy sản quốc tế của nhà nhập khẩu và số tờ khai hải quan Mỹ.

Đối với nguyên liệu thu mua từ nhiều tàu quy mô nhỏ, NOAA có thể chấp nhận báo cáo tổng hợp nếu hệ thống chứng từ của nước xuất khẩu được đánh giá là tương đương.

Trách nhiệm thuộc cả nước xuất khẩu và nhà nhập khẩu

COA không phải là chứng từ do riêng doanh nghiệp xuất khẩu tự khai. Cơ quan hoặc đại diện được Chính phủ nước xuất khẩu ủy quyền phải xác nhận rằng sản phẩm không có nguồn gốc từ nghề cá bị hạn chế.

Nhà nhập khẩu Mỹ chịu trách nhiệm kiểm tra COA, khai dữ liệu trên ACE, bảo đảm thông tin khớp với chứng từ và nộp bản sao theo yêu cầu.

Việc có COA không thay thế các nghĩa vụ khác như Chương trình Giám sát nhập khẩu thủy sản – SIMP, các quy định đối với cá ngừ, yêu cầu của FDA, USDA hoặc các cơ quan liên quan.

Hàm ý đối với doanh nghiệp Việt Nam

Đề xuất không có nghĩa tất cả thủy sản Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ đều phải có COA. Phạm vi áp dụng phụ thuộc vào tình trạng MMPA của từng nghề cá, mã HTS, nước xuất xứ và danh sách sản phẩm bị NOAA đánh dấu.

Tuy nhiên, các mặt hàng khai thác như cá ngừ, mực, bạch tuộc, cua ghẹ, cá biển và sản phẩm chế biến từ nguyên liệu nhập khẩu có thể chịu yêu cầu dữ liệu phức tạp hơn.

Rủi ro lớn nhất là sự không thống nhất giữa hồ sơ khai thác, chứng từ nguyên liệu, COA, tờ khai xuất khẩu và dữ liệu do nhà nhập khẩu khai trên ACE. Sai khác về tên loài, mã FAO, ngư cụ, vùng khai thác, quốc gia treo cờ, mã HTS hoặc khối lượng có thể khiến lô hàng bị giữ lại hoặc yêu cầu bổ sung hồ sơ.

Doanh nghiệp cần phối hợp với khách hàng Mỹ để rà soát mã HTS 10 số, mã loài FAO, vùng và phương thức khai thác, ngư cụ, thông tin tàu, tình trạng MMPA của nghề cá và khả năng truyền dữ liệu chính xác cho nhà nhập khẩu.

Điểm cần lưu ý là yêu cầu COA đã được áp dụng từ ngày 1/1/2026 đối với các lô hàng thuộc diện kiểm soát. Nội dung mới đang được xem xét là số hóa và chuẩn hóa dữ liệu COA trong ACE, qua đó giúp Mỹ tăng khả năng tự động kiểm tra và truy xuất nguồn gốc từng lô thủy sản nhập khẩu.

Chia sẻ:


Bình luận bài viết

Tin liên quan
Tin cùng chuyên mục