Nghị định này áp dụng cho các tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài hoạt động hoặc liên quan đến hoạt động thủy sản trong lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả vùng biển và các đảo.
- Quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản
Quỹ này có chức năng hỗ trợ các chương trình, dự án bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản. Quỹ trung ương và Quỹ cấp tỉnh được tổ chức để quản lý và sử dụng nguồn tài chính từ đóng góp tự nguyện, tài trợ và các nguồn khác.
- Quản lý nuôi trồng thủy sản
Nghị định quy định chi tiết về điều kiện cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản, cấp và thu hồi giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện sản xuất. Các cơ sở phải đáp ứng yêu cầu về cơ sở vật chất, trang thiết bị và hệ thống kiểm soát chất lượng.
- Giám sát hành trình tàu cá
Mỗi tàu cá phải lắp đặt thiết bị giám sát hành trình để quản lý và giám sát hoạt động. Dữ liệu từ thiết bị này được sử dụng để quản lý hoạt động của tàu cá và xử lý vi phạm.
- Quản lý tàu nước ngoài và xuất khẩu thủy sản
Nghị định quy định về cấp phép cho tàu nước ngoài hoạt động trong vùng biển Việt Nam và kiểm soát thủy sản nhập khẩu. Các tàu nước ngoài phải tuân thủ quy định về khai thác và vận chuyển thủy sản khi cập cảng Việt Nam.
- Trách nhiệm của các cơ quan liên quan
Bộ Nông nghiệp và Môi trường chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các quy định của Nghị định này. Các bộ, ngành khác như Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Bộ Quốc phòng và Bộ Công an cũng có trách nhiệm phối hợp trong quản lý và kiểm soát hoạt động thủy sản.
Nghị định này thay thế các Nghị định trước đó liên quan đến việc thi hành Luật Thủy sản và bãi bỏ một số quy định không còn phù hợp.
Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 25/01/2026