Tôm Ấn Độ đối mặt rủi ro thuế mới từ dự luật trừng phạt Nga

(vasep.com.vn) Chưa đầy mười ngày, ngành tôm Ấn Độ liên tiếp nhận thêm những tín hiệu bất lợi từ thị trường Hoa Kỳ. Sau khi mức thuế chống bán phá giá của một số nhà xuất khẩu tăng, một dự luật mới vừa được Quốc hội Mỹ thông qua lại mở ra khả năng hàng hóa từ các quốc gia mua nhiều năng lượng của Nga có thể phải chịu mức thuế bổ sung rất cao.

Tôm – một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng nhất của Ấn Độ sang Mỹ – vì vậy được giới kinh doanh đặc biệt quan tâm.

Áp lực thuế chống bán phá giá tăng

Ngày 9/9, Undercurrent News cho biết Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã nâng mức thuế chống bán phá giá cuối cùng đối với một số doanh nghiệp xuất khẩu tôm nước ấm đông lạnh của Ấn Độ trong kỳ rà soát đối với các lô hàng từ tháng 2/2024 đến tháng 1/2025.

Theo các nguồn tin thương mại được Undercurrent dẫn lại, doanh nghiệp Ấn Độ có khả năng phải tự hấp thụ một phần chi phí thuế thay vì chuyển toàn bộ sang người mua nếu muốn duy trì đơn hàng.

Khả năng tăng giá hiện khá hạn chế. Thị trường bán buôn tôm Mỹ trong tháng 9 vẫn chịu sức ép từ nguồn cung lớn trong khi nhu cầu chưa mạnh. Trong điều kiện đó, thêm một vài điểm phần trăm chi phí có thể trực tiếp bào mòn lợi nhuận của nhà xuất khẩu.

Xuất hiện thêm một rủi ro hoàn toàn khác

Ngày 16/9, Hạ viện Hoa Kỳ thông qua Đạo luật trừng phạt Nga và Iran năm 2026 với 262 phiếu thuận và 159 phiếu chống. Dự luật trước đó đã được Thượng viện thông qua và hiện được chuyển tới Tổng thống Donald Trump.

Một điều khoản đáng chú ý trao quyền cho Tổng thống áp thuế lên tới 100% đối với hàng hóa từ những quốc gia mua lượng lớn dầu và khí đốt của Nga, nhằm gia tăng sức ép đối với nguồn thu năng lượng của Moscow.

Ấn Độ và Trung Quốc là hai nền kinh tế được chú ý nhiều nhất vì đang nhập khẩu lượng lớn dầu của Nga.

Điều quan trọng cần phân biệt là tôm Ấn Độ hiện chưa bị áp mức thuế 100% này. Dự luật cần hoàn tất thủ tục trở thành luật và việc áp dụng mức thuế, quốc gia nào bị áp cũng như phạm vi hàng hóa cụ thể còn phụ thuộc vào quyết định thực thi của Chính quyền Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, việc Undercurrent ngày 17/9 dành riêng một phân tích về nguy cơ đối với tôm Ấn Độ cho thấy vấn đề đã bắt đầu được ngành thủy sản đưa vào kịch bản rủi ro.

Khó khăn nằm ở sự chồng lớp của nhiều loại thuế

Điều đáng chú ý đối với ngành tôm không phải chỉ là một mức thuế đơn lẻ.

Một lô tôm nhập khẩu vào Mỹ có thể phải đối mặt đồng thời với thuế nhập khẩu thông thường, thuế bổ sung theo chính sách thương mại, thuế chống bán phá giá hoặc chống trợ cấp và, nếu các chính sách mới được kích hoạt, thêm các biện pháp thuế phục vụ mục tiêu đối ngoại hoặc trừng phạt kinh tế.

Do đó, tương quan giữa các nguồn cung có thể thay đổi rất nhanh ngay cả khi năng lực sản xuất, giá tôm nguyên liệu và nhu cầu tiêu dùng không thay đổi nhiều.

Đây cũng là một thách thức đối với nhà nhập khẩu Mỹ. Một hợp đồng được ký khi tổng mức thuế ở một mức nhất định có thể trở nên kém hiệu quả nếu trước thời điểm giao hàng xuất hiện thêm một lớp thuế mới.

Chưa nên vội coi đây là cơ hội cho các nước khác

Nếu Ấn Độ cuối cùng phải chịu thêm mức thuế đáng kể, các nhà nhập khẩu Mỹ có thể tăng mức độ phân tán nguồn cung. Nhưng điều đó không đồng nghĩa thị phần sẽ tự động chuyển sang một quốc gia cụ thể.

Thị trường tôm Mỹ hiện vẫn có nguồn cung lớn và cạnh tranh giá gay gắt. Ecuador tiếp tục có sản lượng cao và đã mở rộng mạnh năng lực cung cấp sản phẩm bóc vỏ, trong khi nhiều nước châu Á cũng đang tìm cách duy trì vị trí tại Mỹ.

Việt Nam đồng thời phải tính đến thuế Điều 301, thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp theo từng doanh nghiệp và kỳ rà soát. Vì vậy, điều doanh nghiệp cần theo dõi không phải chỉ là “thuế của Ấn Độ tăng bao nhiêu”, mà là tổng chi phí tiếp cận thị trường của từng nguồn cung thay đổi thế nào.

Diễn biến từ ngày 9–17/9 cho thấy chính sách thuế đối với thủy sản Mỹ ngày càng có nhiều lớp và có thể xuất phát từ những vấn đề không trực tiếp liên quan đến ngành thủy sản.

Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, theo dõi chính sách thương mại vì vậy đã trở thành một phần của quản trị giá và quản trị đơn hàng, chứ không còn đơn thuần là công việc pháp lý sau khi một biện pháp thuế được ban hành.

Chia sẻ:


Bình luận bài viết

Tin cùng chuyên mục