Hội thảo nhằm đưa ra các khía cạnh thực tế của các doanh nghiệp Việt Nam và châu Âu trong việc triển khai Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu-Việt Nam (EVFTA) hiện nay. Đồng thời, chia sẻ những câu chuyện thành công cũng như những khó khăn còn tồn đọng, đặc biệt trong bối cảnh dịch COVID-19. Các giải pháp đề xuất nhằm tối đa hóa những lợi ích của Hiệp định EVFTA cũng được đưa ra thảo luận trong sự kiện lần này.
Thay đổi trong xuất khẩu
Tại hội thảo, ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI cho biết, Hiệp định EVFTA có hiệu lực vào thời điểm đặc biệt, khi kinh tế hai bên và cả thế giới đang phải vật lộn để vượt qua những khó khăn từ dịch COVID-19. Vì vậy, Hiệp định EVFTA lại gánh thêm những kỳ vọng khác, trở thành một trong những động lực để các doanh nghiệp và nền kinh tế hai bên.
Kể từ khi có hiệu lực ngày 1/8/2020, Hiệp định EVFTA đã cho thấy những đóng góp có ý nghĩa trong phát triển kinh tế giữa Việt Nam và EU, đặc biệt là sự tăng trưởng của Việt Nam. Những thay đổi trong quan hệ xuất nhập khẩu song phương là minh chứng điển hình.
Trước khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, trong 7 tháng năm 2020, xuất khẩu của Việt Nam sang EU giảm 5,9% so với cùng kỳ 2019. Nhưng khi hiệp định có hiệu lực, trong 5 tháng cuối năm 2020, trong khi nhập khẩu của EU từ thế giới sụt giảm tới 20%, thì EU nhập khẩu từ Việt Nam tăng 3,8%. 6 tháng đầu năm 2021, xuất khẩu từ Việt Nam sang EU vẫn tăng liên tục và ổn định, ở mức 18,3% so với cùng kỳ, đặc biệt là nhóm hàng nông sản.
Ở chiều ngược lại, Hiệp định EVFTA cũng thúc đẩy mạnh nhập khẩu từ EU vào Việt Nam, với các sản phẩm như: linh kiện điện tử, nguyên phụ liệu, máy móc thiết bị… là thế mạnh của EU và cũng là nguồn đầu vào quan trọng cho Việt Nam.
Nếu như năm 2020, nhập khẩu từ EU của Việt Nam tăng 4,3%, thì 6 tháng đầu năm 2021 con số này là 19,8%. Tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu sử dụng được ưu đãi thuế quan theo Hiệp định EVFTA của Việt Nam cũng đạt được mức cao nhất so với năm đầu thực thi của các Hiệp định thương mại tự do khác.
Theo Bộ Công Thương, 5 tháng cuối năm 2020, tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu sử dụng được ưu đãi thuế quan theo EVFTA của Việt Nam là 14,8%.
Theo VCCI, tỷ lệ này gấp 2 lần tỷ lệ sử dụng Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA); gấp 7 lần Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Ấn Độ (AIFTA); gấp 2 lần tỷ lệ tận dụng các thị trường mới của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) trong năm đầu. 6 tháng đầu năm 2021, tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu sử dụng được ưu đãi thuế quan theo Hiệp định EVFTA tiếp tục tăng 29%.
Về đầu tư, với những cam kết về quản trị minh bạch từ Hiệp định EVFTA và những cam kết tạo môi trường thương mại đầu tư thông thoáng, thuận lợi cho doanh nghiệp và nhà đầu tư của hai bên, Việt Nam đã tiếp nhận được nguồn đầu tư có chất lượng và được học hỏi, hấp thụ khoa học và công nghệ tiên tiến từ EU. Qua đó, tạo ra những giá trị và lợi ích cho doanh nghiệp và nhà đầu tư của cả hai bên.
Tính đến tháng 6 năm 2021, EU có 2.221 dự án, tăng 142 dự án so với cùng kỳ năm 2020, từ 26/27 quốc gia thuộc EU còn hiệu lực tại Việt Nam với vốn đầu tư đăng ký đạt 22,216 tỷ USD, tăng 449 triệu USD so với cùng kỳ năm 2020.
Trợ lực ý nghĩa cho doanh nghiệp
“Sau những thành công bước đầu trong thực thi EVFTA, chúng ta đang bước vào một giai đoạn mới khó khăn hơn, thách thức hơn dưới áp lực chưa từng có của dịch COVID-19 ở Việt Nam”, Chủ tịch VCCI, ông Vũ Tiến Lộc nói.
Theo ông Lộc, để xử lý tất cả những nguy cơ cả hiện hữu và trong tương lai này thì cần giải pháp từ cả chính sách của Nhà nước và chiến lược riêng của doanh nghiệp. Trong các giải pháp đó, nếu khai thác hiệu quả các khía cạnh thích hợp từ Hiệp định EVFTA có thể đóng góp và là một trợ lực ý nghĩa cho doanh nghiệp trong các nỗ lực vượt qua dịch bệnh.
Chẳng hạn như: lợi thế về thuế quan trong Hiệp định EVFTA có thể là một lực hấp dẫn quan trọng để thu hút các khách hàng EU quay trở lại với Việt Nam sau thời gian đỉnh dịch. EVFTA tạo cho Việt Nam lợi thế cực kỳ đáng kể trong cạnh tranh với các đối thủ khác ở thị trường EU.
Hiện tại ngoài Việt Nam, EU mới chỉ có Hiệp định thương mại tự do (FTA) với 3 nền kinh tế ở châu Á là Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore; trong đó, không có đối thủ cạnh tranh trực tiếp nào với Việt Nam.
Nếu xuất khẩu sang EU qua Hiệp định EVFTA có thể giữ được nhờ lợi thế giá, đặc biệt trong lĩnh vực nông thủy sản, thì tiềm năng lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu sẽ là động lực để doanh nghiệp tiếp tục đầu tư khôi phục sản xuất sau dịch. Đồng thời, thu hút người lao động trở lại cũng như thúc đẩy khôi phục nguồn nguyên liệu.
Cũng như vậy, các lợi thế từ thuế quan trong nhập khẩu máy móc thiết bị, công nghệ, nguyên phụ liệu cho sản xuất từ EU theo Hiệp định EVFTA có thể giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí; tăng năng suất lao động, cải thiện hiệu quả cạnh tranh.
Ông Nguyễn Hoài Nam, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), xuất khẩu thủy sản sang EU trong năm 2020 -2021 đã đạt được những thành quả và đối mặt với nhiều thách thức đến từ Brexit, dịch COVID-19 và việc ngành thủy sản Việt Nam bị áp thẻ vàng IUU.
Vương quốc Anh từng là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam trong EU với giá trị nhập khẩu thủy sản đạt từ 280-330 triệu USD. Dịch COVID-19 gây ra đứt gãy trong chuỗi cung ứng thủy sản toàn cầu, đặc biệt trong khu vực logistics do thiếu container, ách tắc trong vận chuyển tới các nước EU và nhu cầu về thủy sản giảm mạnh trên nhiều thị trường trong đó có EU.
Tại Việt Nam, dịch COVID-19 diễn biến phức tạp từ tháng 7, việc áp dụng các biện pháp giãn cách xã hội và thắt chặt phòng chống dịch ảnh hưởng lớn tới hoạt động sản xuất, chế biến và xuất khẩu. Trong hai tháng qua, nguồn cung sản phẩm thô và công suất chế biến giảm từ 40-50% so với giai đoạn trước. Nhiều địa phương gặp khó khăn trong việc thực hiện các quy định IUU, đặc biệt trong việc xin chứng nhận về nguồn gốc nguyên liệu thô từ hoạt động đánh bắt.
Hiệp định EVFTA đã góp phần đáng kể trong những thành quả xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong thời gian qua. Hiện có tới 50% các dòng thuế giảm về mức 0% trước năm 2020 bao gồm thuế suất với các mặt hàng chính như: tôm, cá ngừ, mực và bạch tuộc.
7 năm 2021, xuất khẩu tôm và hải sản tăng mạnh do nhu cầu thị trường tăng sau khi dịch bệnh được kiểm soát tốt hơn và thuế ưu đãi cho các sản phẩm làm từ nguyên liệu trong nước. Xuất khẩu tôm tăng 26%, hải sản tăng 23%. Xuất khẩu cá tra giảm 13% do chi phí đầu vào cao trong khi giá xuất khẩu lại không tăng. Dịch COVID-19 ảnh hưởng mạnh tới sản xuất nguyên liệu thô, làm giảm cơ hội tận dụng các dòng thuế ưu đãi.
Nhiều mặt hàng thủy sản như cá ngừ, mực và bạch tuộc được hưởng thuế suất 0% từ năm 2020 nhưng do thiếu nguyên liệu đầu vào và phải nhập khẩu nên không tận dụng được ưu đãi.
Trong năm tháng cuối của năm 2021, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU dự báo tiếp tục bị ảnh hưởng nặng bởi dịch COVID-19. Theo kịch bản tích cự nhất là dịch bệnh được kiểm soát tốt hơn tại Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh thành miền Nam, xuất khẩu trong tháng 8 và tháng 9 sẽ giảm sâu từ 25-30% so với cùng kỳ năm trước và sau đó hồi phục dần vào tháng 3 năm 2022. Kết quả xuất khẩu trong 5 tháng cuối năm 2021 sẽ có thể giảm ít nhất 9% so với cùng kỳ năm 2020, đạt 3,66 tỷ USD. Vì vậy, đến cuối năm nay, xuất khẩu thủy sản có thể đạt 8,6 tỷ USD, tăng 2,7% so với năm 2020.
(vasep.com.vn) Xuất khẩu thủy sản Việt Nam tháng 7/2026 đạt gần 1,02 tỷ USD, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 7 tháng đầu năm, kim ngạch đạt gần 6,78 tỷ USD, tăng 11,5%. Mốc trên 1 tỷ USD trong tháng 7 tiếp tục củng cố triển vọng xuất khẩu thủy sản cả năm có thể vượt 12 tỷ USD. Tuy nhiên, số liệu tháng 7 cũng phát đi tín hiệu rõ ràng rằng giai đoạn tăng trưởng thuận lợi nhất có thể đã đi qua: mức tăng chung chỉ còn 4,8%; cá tra giảm 6,1%; cá ngừ gần như không tăng; EU, Hàn Quốc và Trung Đông cùng giảm hai con số.
(vasep.com.vn) Theo số liệu của Shrimp Insights, nhập khẩu tôm của EU tiếp tục giảm trong tháng 5/2026, phản ánh sự điều chỉnh sau giai đoạn tăng trưởng mạnh bất thường của năm trước. Theo dữ liệu thương mại, EU nhập khẩu 29.728 tấn tôm trong tháng 5, giảm 27% so với cùng kỳ năm 2025; giá trị nhập khẩu cũng giảm tương ứng xuống 181 triệu euro.
(vasep.com.vn) Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) đang mở rộng hợp tác với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu thủy sản của Tanzania nhằm tăng sản lượng rong biển và hải sâm, củng cố chuỗi giá trị và hỗ trợ sinh kế bền vững, trong bối cảnh nước này đẩy mạnh phát triển kinh tế biển xanh.
(vasep.com.vn) Hội đồng Tư vấn Biển Bắc (NSAC) vừa kêu gọi Liên minh châu Âu (EU) đánh giá lại quy định về khu vực bảo vệ cá tuyết tại Kattegat (Kattegat Cod Box), cho rằng các biện pháp quản lý hiện nay cần được điều chỉnh để phù hợp hơn với thực trạng nguồn lợi và hoạt động khai thác.
(vasep.com.vn) Từ ngày 1/6/2026, Liên bang Nga chính thức áp dụng tiêu chuẩn quốc gia mới GOST 35273-2025 “Cá đông lạnh - Yêu cầu kỹ thuật”, thay thế đồng thời ba tiêu chuẩn hiện hành gồm GOST 17660-97, GOST 32366-2013 và GOST 32910-2014. Tiêu chuẩn mới thiết lập một bộ yêu cầu thống nhất đối với cá đông lạnh dùng làm thực phẩm, bao gồm các quy định về chất lượng nguyên liệu, chế biến, cấp đông, bao gói, ghi nhãn, kiểm nghiệm, vận chuyển và bảo quản và được áp dụng bắt buộc đối với cả sản phẩm nội địa lẫn hàng nhập khẩu vào Nga. Đây là tiêu chuẩn liên quốc gia trong hệ thống tiêu chuẩn GOST, được Nga đưa vào áp dụng như tiêu chuẩn quốc gia, nhằm thống nhất một số yêu cầu kỹ thuật đối với cá đông lạnh dùng làm thực phẩm cho người.
(vasep.com.vn) Ngày 29/7/2026, Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 407/TB-VPCP về kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng tại Phiên họp lần thứ 35 của Ban Chỉ đạo quốc gia về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) và phát triển bền vững ngành thủy sản. Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tập trung cao độ, đề cao trách nhiệm người đứng đầu, huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc; khẩn trương khắc phục triệt để các tồn tại, hạn chế và tạo chuyển biến thực chất trong công tác chống khai thác IUU.
Theo Chủ tịch VASEP, chi phí sản xuất cao, thiếu nguyên liệu cạnh tranh, rào cản thương mại gia tăng và khan hiếm lao động đang tạo áp lực lớn lên doanh nghiệp thủy sản.
(vasep.com.vn) Nuôi trồng thủy sản tại bang Espírito Santo (Brazil) đang ghi nhận đà tăng trưởng tích cực trong những năm gần đây, trong đó cá rô phi giữ vai trò chủ lực. Tuy nhiên, mức tiêu thụ cá của người dân vẫn thấp hơn khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Trước thực tế này, các chương trình đào tạo kết hợp ẩm thực đang được triển khai nhằm khuyến khích tiêu dùng và gia tăng giá trị cho sản phẩm cá rô phi.
(vasep.com.vn) Fiji đã chuyển từ phương thức tuần tra, kiểm soát truyền thống sang cách tiếp cận giám sát dựa trên thông tin tình báo nhằm xử lý hoạt động khai thác bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU) trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này.
(vasep.com.vn) Phòng Nuôi trồng Thủy sản Quốc gia Ecuador (CNA) cho biết đang theo dõi sát các biện pháp hạn chế mà Trung Quốc áp dụng đối với một số doanh nghiệp xuất khẩu tôm Ecuador, đồng thời ủng hộ việc thành lập nhóm công tác kỹ thuật chính thức với cơ quan chức năng Trung Quốc để tìm giải pháp.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn