Giải pháp nào cho TXNG cho chuỗi cung ứng thủy sản trong bối cảnh Covid - 19
Ngày nay, truy xuất nguồn gốc (TXNG) trong chuỗi cung ứng thực phẩm đã trở thành mối quan tâm toàn cầu và công cụ đắc lực góp phần quản lý an toàn thực phẩm, chất lượng hàng hóa một cách có hiệu quả cũng như góp phần bảo vệ người tiêu dùng. TXNG cho toàn chuỗi cung ứng thực phẩm nói chung, chuỗi cung ứng thủy sản nói riêng không những giúp nâng cao giá trị sản phẩm, phát triển thương hiệu sản phẩm của Việt Nam mà còn là quá trình đầu tư dài hạn của cơ sở sản xuất để tăng cường năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.
Thủy sản đang một trong số các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam hiện nay. Đa số các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam như Mỹ, Nhật, EU, Trung Quốc, Hàn Quốc,… đều có các quy định chặt chẽ về TXNG đối với hàng thủy sản nhập khẩu. Trong bối cảnh Covid 19 hiện nay, các doanh nghiệp chế biến thủy sản của Việt Nam đều có thể áp dụng hệ thống TXNG điện tử để có thể truy cập dữ liệu từ xa thay cho việc ghi chép và trao đổi thông tin dữ liệu thủ công bằng giấy giúp doanh nghiệp quản lý được chất lượng sản phẩm và an toàn thực phẩm theo từng lô hàng.
Đối với các cơ sở sản xuất thủy sản trước chế biến như trại giống, trại nuôi, các đại lý thu gom nguyên liệu thủy sản, việc TXNG tại cơ sở vẫn còn gặp nhiều khó khăn do hiểu biết về yêu cầu thị trường, quy định pháp luật của các cơ sở vẫn còn hạn chế. Tại nhiều trại giống, trại nuôi, nậu vựa quy mô nhỏ, chủ cơ sở và các thành trình độ văn hóa chưa cao nên tiếp cận tiến bộ khoa học kỹ thuật còn hạn chế, dẫn đến việc ngại ghi chép sổ sách, biểu mẫu, nhất là trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biễn còn phức tạp khiến nhiều người ngần ngại trong việc giao tiếp trực tiếp với bên ngoài.
Việc áp dụng các công nghệ phù hợp hỗ trợ người dân trong ghi chép và trao đổi thông tin sẽ giúp khuyến khích các cơ sở trong việc áp dụng các yêu cầu về TXNG của nhà nước cũng như doanh nghiệp chế biến. Đối với các trang trại, đại lý nguyên liệu có quy mô nhỏ, có thể áp dụng hệ thống TXNG bằng phần mềm trên điện thoại, để người nuôi có thể dễ dàng cập nhật theo ngày và thời gian thực các thông tin về nguồn gốc cũng như quá trình phát triển của con tôm. Đối với các trại giống, trại nuôi hay đại lý nguyên liệu có quy mô lớn hơn thì có thể triển khai áp dụng TXNG bằng phần mềm trên nền tảng website, qua đó giúp doanh nghiệp chế biến có thể dễ dàng nhập dữ liệu phục vụ cho việc TXNG một các trực quan hơn qua máy tính đồng thời có thể xem các báo cáo tổng quan phục vụ cho quá trình quản lý chất lượng nguyên liệu theo từng lô và qua từng thời kỳ.
Bốn cấp độ để chuyển đổi sang TXNG điện tử
Các hoạt động TXNG trong các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản hiện nay không còn là điều mới mẻ. Gần như công ty nào cũng có hệ thống sổ sách ghi chép, quản lý chất lượng theo các tiêu chuẩn. Một mặt để đáp ứng các yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng các nhà máy đang áp dụng như HACCP, ISO, BAP, ASC... mặt khác đáp ứng nhu cầu quản lý nhà nước của Cục Quản lý chất lượng Nông Lâm Thủy sản (NAFIQAD)[1] trong việc cấp chứng thư, đảm bảo yêu cầu của lô hàng xuất khẩu. Tuy nhiên, cũng chính từ yêu cầu này nên nhiều công ty ghi chép, quản lý đến 2-3 lần sổ sách: nào là hệ thống để cấp chứng thư, nào là hệ thống để đáp ứng cho các tiêu chuẩn, nào là để quản lý nội bộ. Nhưng hầu hết các nhà máy thủy sản đều ghi chép, lưu trữ dưới dạng giấy, vừa gây khó khăn cho việc lưu trữ 2 năm, tìm kiếm dữ liệu khi cần, vừa làm lãng phí nhiều nguồn lực, cả về con người và vật chất.
Để giải quyết được các khó khăn đó, có bốn cấp độ chuyển đổi từ TXNG trên giấy sang TXNG điện tử để các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất thủy sản có thể lựa chọn nhằm số hóa hệ thống TXNG của mình:
Cấp độ 1: Giữ nguyên hiện trạng sổ sách ghi chép như hiện tại, nhưng được số hóa một phần thành báo cáo truy xuất để chia sẻ cho các bên liên quan. Để có được quá trình này, cần nắm rõ yêu cầu của các thị trường xuất khẩu, ghi nhãn đúng quy định, tạo các mẫu báo cáo truy xuất đúng chuẩn quốc tế. Dữ liệu đã đi một bước từ bản giấy ra thành các báo cáo điện tử, bao gồm nhiều báo cáo của các công đoạn khác nhau. Dữ liệu được đưa ra nhiều dạng khác nhau cho từng đối tượng như cơ quan quản lý, đối tác nhập hàng, người tiêu dùng.... Người xem hoàn toàn dễ dàng qua nhiều hình thức như thư điện tử, mã QR code dán trên thùng hàng. Đây là việc không chỉ trình diễn tóm tắt được cả tập tài liệu đã ghi chép và lữu trữ tại nhà máy, mà còn là hoạt động marketing cho thương hiệu nhà máy, ngay cả khi sản phẩm được sản xuất hoàn toàn theo các mẫu mã bao gói yêu cầu tư phía đối tác đặt hàng.
Cấp độ 2: Cũng giống cấp độ 1, nhưng việc số hóa được thực hiện mạnh hơn thông qua việc chụp hình và lưu trữ bản điện tử song song. Thay vì báo cáo tóm tắt, ở cấp độ này, quá trình minh bạch hóa đạt được cấp độ cao hơn. Toàn bộ hồ sơ, sau khi các bộ phận hoàn thành, trước khi nộp lưu bộ phận quản lý chất lượng thì được chụp hình qua phần mềm chuyên dụng để quản lý đồng bộ. Mặc dù quá trình này làm tăng thêm một phần khối lượng công việc, nhưng toàn bộ tài liệu đã được số hóa, lưu trữ điện tử. Quá trình tra cứu sau này cũng như chia sẻ cho khách hàng, yêu cầu quản lý đều dễ dàng hơn.
Cấp độ 3: Số hóa toàn bộ quy trình, nhập liệu điện tử kết hợp các công cụ hỗ trợ, lưu trữ chính thức bằng bản điện tử. Ở cấp độ này, các quy trình được thiết lập trên hệ thống điện tử ngay khi có đơn hàng, trong đó bao gồm cả quy trình nuôi, vận chuyển và chế biến. Quy trình được chia sẻ cho các nhà cung cấp để cung cấp đúng loại nguyên liệu. Quy trình được phân công trong nội bộ đến từng bộ phận sản xuất để theo dõi tiến độ hoàn thành đơn hàng. Việc nhập liệu được thông qua các biểu mẫu điện tử trên điện thoại, với các tính năng nhắc nhở thông minh về nhiệt độ, định kỳ ghi chép, các lưu ý về nguy cơ an toàn thực phẩm... Tuy nhiên, một phần nhập liệu khác vẫn có thể thực hiện với biểu mẫu giấy cho phù hợp thực tế như thương lái thu mua nguyên liệu, ghi chép trong khu vực ẩm ướt cao... Sự linh hoạt đã tạo ra độ mở trong việc ứng dụng, số liệu vẫn được thống kê và báo cáo cập nhật để cấp trên theo dõi, nhưng tránh được việc khó khăn điện tử hóa trong một số khâu.
Cấp độ 4: Số hóa toàn diện, phát triển các mô-đun ERP[2] trong nhà máy và trang trại. Đây là bước chuyển mình hoàn toàn của các nhà máy, các trang trại và cả chuỗi cung ứng hải sản xuất khẩu. Tiếp tục tận dụng quy trình đã số hóa ở cấp độ 3, nhưng toàn bộ các khâu nhập liệu được thiết lập điện tử. Một số khâu cần nhập liệu liên tục nhưng khó khăn trong việc sử dụng form mẫu điện tử trên điện thoại sẽ được thay thế bằng các thiết bị IOT[3] như cân điện tử, nhiệt kế điện tử nhập liệu tự động. Các quy trình, lúc này không chỉ còn là thống kê mà còn có tính chất thông minh để dạy lại chính người lao động. Ví dụ trong quy trình nông nghiệp sẽ có hướng dẫn lượng thuốc sử dụng, lượng thức ăn thích hợp để ai cũng có thể trở thành nông dân giỏi. Trong quy trình sản xuất sẽ có các điều tiết về sản lượng, loại sản phẩm nào sau mỗi công đoạn phù hợp với đơn hàng nào nhất. Các dữ liệu không chỉ còn là báo cáo thống kê mà còn tổng hợp cả về giá trị như đơn hàng đã hoàn thành bao nhiêu phần trăm, giá trị bao nhiêu, lời bao nhiêu, cần bao nhiêu nguyên liệu nữa, cân bằng với vùng sản xuất của đối hay cần phải tìm thêm bên ngoài.
Bốn cấp độ chuyển đổi trên đều có những điểm mạnh riêng. Tùy từng điều kiện cụ thể và cân đối về nguồn lực, việc áp dụng một trong bốn cấp độ sẽ mang lại hiệu quả không chỉ trong TXNG mà còn là quản lý chất lượng, báo cáo thống kê, cải tiến quy trình. Số hóa, sử dụng các công cụ công nghệ thông tin là việc làm để dễ dàng hơn trong quản lý, nhưng cũng đòi hỏi sự chính xác trong tiếp cận để tránh lãng phí nguồn lực.
Để hiểu rõ hơn về bốn cấp độ số hóa trong TXNG điện tử, các cơ sở, doanh nghiệp nuôi, thu gom, chế biến thủy sản có thể tham gia vào chuỗi sự kiện Đào tạo – Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm thực hiện TXNG điện tử do VASEP tổ chức trong tháng 11-12/2020:
- Lớp đào tạo: “TXNG cho doanh nghiệp chế biến thuỷ sản - Yêu cầu và giải pháp phát triển các ứng dụng”: ngày 18/11/20 tại Cần Thơ và ngày 20/11/20 tại Cà Mau.
- Lớp đào tạo: “TXNG cho chuỗi sản xuất, cung ứng nguyên liệu thuỷ sản - Yêu cầu và giải pháp phát triển các ứng dụng” : ngày 19/11/20 tại Cần Thơ và ngày 21/11/20 tại Cà Mau.
- Hội thảo “TXNG chuỗi cung ứng thuỷ sản - Chia sẻ kinh nghiệm và giải pháp”: ngày 8/12/20 tại Cần Thơ và ngày 9/12/20 tại thành phố Hồ Chí Minh.
Các chương trình này đều đang được miễn phí tham dự. Để tìm hiểu chi tiết về chương trình cũng như đăng ký tham dự, các doanh nghiệp và cơ sở có thể xem thêm thông tin tại website: www.daotao.vasep.com.vn.
[1] Yêu cầu quy định tại văn bản hợp nhất số 04/VBHN-BNNPTNT ngày 23/5/2019, bản điện tử tại: http://www.nafiqad.gov.vn/nguoidung/vanbanuserviewdetail/tabid/245/id/3181/language/vi-VN/Default.aspx
[2] Phần mềm ERP hay hệ thống ERP (ERP: Enterprise Resource Planning) là một phần rất quan trọng trong việc chuyển đổi số
[3] Internet of Things, hay IoT, internet vạn vật là hàng tỷ thiết bị vật lý trên khắp thế giới hiện được kết nối với internet, thu thập và chia sẻ dữ liệu.
Nếu tách từ “aquaculture” thành hai phần, có thể thấy một lớp nghĩa đáng suy nghĩ. “Aqua” có gốc Latin, nghĩa là nước. “Culture” ngày nay thường được hiểu là văn hóa, nhưng gốc xa của từ này liên quan đến “cultura”, từ động từ “colere”: chăm sóc, vun trồng, canh tác. Bởi vậy, “aquaculture” không chỉ là nuôi trồng thủy sản theo nghĩa kỹ thuật, mà còn gợi một ý niệm rộng hơn: chăm sóc và nuôi dưỡng sự sống trong môi trường nước.
(vasep.com.vn) Jingtang Agriculture, doanh nghiệp có trụ sở tại Quảng Đông, Trung Quốc, đang hoàn tất nhà máy chế biến công suất 100.000 tấn tại Maoming. Cơ sở này sẽ sản xuất thức ăn, giống, sản phẩm chăm sóc sức khỏe cho cá rô phi và chế biến cá, hướng tới mở rộng thị phần trong nước.
(vasep.com.vn) Bệnh EHP do vi bào tử trùng nội bào Enterocytozoon hepatopenaei gây ra, không thường gây chết hàng loạt nhưng làm tôm chậm lớn, phân đàn, kéo dài thời gian nuôi và tăng chi phí sản xuất. Tôm thẻ chân trắng và tôm sú đều mẫn cảm với bệnh. EHP thường được phát hiện ở tôm 30–60 ngày tuổi, xuất hiện quanh năm và có thể gia tăng trong mùa khô, các đợt nắng nóng kéo dài.
(vasep.com.vn) Công ty CP Tập Đoàn Thủy sản Minh Phú đang mở rộng công suất chế biến và đẩy mạnh tự động hóa trong bối cảnh nhu cầu từ khách hàng tăng mạnh. Nhà máy Minh Phú Khánh An tại Cà Mau hiện hoạt động khoảng 2/3 công suất thiết kế và dự kiến đạt 100% vào cuối tháng 9. Nhà máy có vốn đầu tư 1.500 tỷ đồng, công suất thiết kế 35.000 tấn sản phẩm thông thường mỗi năm.
(vasep.com.vn) Hội nghị thường niên Aquaculture Europe 2026 của Hiệp hội Nuôi trồng thủy sản châu Âu (EAS) sẽ diễn ra tại Ljubljana, Slovenia vào tháng 9, đúng dịp EAS kỷ niệm 50 năm thành lập. Với chủ đề “Nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh biến đổi toàn cầu”, sự kiện tập trung vào khả năng thích ứng, đổi mới và xây dựng ngành nuôi trồng thủy sản bền vững hơn.
(vasep.com.vn) Tại hội thảo B2B quốc tế (Hosted Buyer Program) trong khuôn khổ Vietfish 2026, ông Nguyễn Hoàng Phẩm – Giám đốc Kinh doanh, Công ty CP Chế biến Thủy sản Tài Kim Anh – đã có bài trình bày “Ngành tôm Việt Nam: Thay đổi để phát triển bền vững” (Vietnam’s shrimp industry: Changing for sustainability. Từ góc nhìn của doanh nghiệp chế biến, bài trình bày cho thấy ngành tôm Việt Nam vẫn duy trì vai trò chủ lực trong xuất khẩu thủy sản, nhưng đang bước vào giai đoạn cạnh tranh mới, trong đó thay đổi không còn là lựa chọn, mà là điều kiện để phát triển.
(vasep.com.vn) Maxim Agri Holding, nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi có trụ sở tại Hà Lan, đã ký thỏa thuận với Công ty Phát điện Kenya (KenGen) để đầu tư vào dự án nhà máy thức ăn thủy sản trị giá 3,95 triệu USD tại Kenya, cách Nairobi khoảng 120 km về phía tây bắc.
(vasep.com.vn) VASEP vừa nhận được phản ánh từ một doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam về rủi ro phát sinh trong quá trình giao dịch với khách hàng EURL CAP DE FER tại Algeria. Vụ việc hiện đang trong quá trình trao đổi, làm rõ giữa các bên, tuy nhiên doanh nghiệp xuất khẩu có thể phải đối mặt với chi phí lớn do hàng đã đến cảng nhưng khách hàng chưa nhận hàng.
(vasep.com.vn) Chính phủ Canada và tỉnh British Columbia vừa công bố Quỹ Thủy sản British Columbia (BCFF) với tổng vốn đầu tư 106,5 triệu CAD trong 5 năm, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng của ngành thủy sản trước những thay đổi về thị trường, môi trường và công nghệ. Canada đóng góp 60% nguồn vốn, trong khi British Columbia chịu 40%.
(vasep.com.vn) Tổ chức Bột cá và Dầu cá Thế giới (IFFO) cho biết sản lượng bột cá và dầu cá toàn cầu tiếp tục ở mức thấp do hiện tượng El Niño ven biển ảnh hưởng đến nguồn nguyên liệu khai thác. Tình trạng này đặc biệt rõ rệt tại Peru, quốc gia thường đóng góp khoảng 20% sản lượng bột cá toàn cầu.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn