Quy định số 1005/2008 của EC thiết lập một hệ thống trong cộng đồng nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và xóa bỏ các hoạt động khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU)

Quy định của EU 15:54 22/11/2017 705
Quy định về IUU được chi tiết trong quy định 1005/2008 của Ủy ban châu Âu (EC) ngày 29/9/2008 gồm 12 chương (57 điều) và 4 phụ lục. Trong đó, có 1 số điểm đáng chú ý như sau:

Điều 3. Tàu đánh bắt thực hiện hoạt động đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định.

1. Một tàu đánh bắt được xem là thực hiện hoạt động đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định nếu thấy rằng, trái với các biện pháp bảo tồn và quản lý áp dụng đối với khu vực đánh bắt liên quan, tàu đã:

(a) đánh bắt mà không có giấy phép hợp lệ, không được quốc gia tàu treo cờ hay quốc gia ven biển có liên quan cấp phép hay cho phép; hoặc

(b) không hoàn thành nghĩa vụ lưu và báo cáo dữ liệu liên quan, bao gồm dữ liệu được truyền bởi hệ thống giám sát tàu qua vệ tinh, hoặc thông báo trước theo Điều 6, hoặc

(c) đánh bắt trong khu vực khép kín, vào thời điểm mùa vụ đã kết thúc, không được cấp hoặc sau thời hạn được cấp hạn ngạch, đánh bắt quá độ sâu cho phép; hoặc

(d) đánh bắt loài được tạm dừng đánh bắt hoặc loài cấm đánh bắt;

(e) sử dụng công cụ đánh bắt bị cấm hoặc không đúng quy định; hoặc

(f) làm giả hay che dấu dấu vết, danh tính hay đăng kiểm;

(g) che dấu, giả mạo hay hủy chứng cứ liên quan đến một công tác điều tra, hoặc

(h) cản trở công việc của cán bộ chức năng thực hiện nhiệm vụ thẩm tra sự tuân thủ đối với các biện pháp bảo tồn và quản lý, cản trở công việc của quan sát viên thực hiện nhiệm vụ thị sát sự tuân thủ các nguyên tắc áp dụng của Cộng đồng; hoặc

(i) đưa lên khoang, chuyển tải hay chở cá nhỏ quá cỡ, trái với điều luật hiện đang có hiệu lực; hoặc

(j) chuyển tải hay cùng tham gia hoạt động đánh bắt, hỗ trợ hay tiếp ứng cho các tàu đánh bắt đã được xác định có thực hiện hành vi đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định theo Quy định này, đặc biệt các tàu bị đưa vào danh sách tàu đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định của Cộng đồng hoặc của một tổ chức quản lý nghề cá khu vực; hoặc

(k) thực hiện hoạt động đánh bắt trong khu vực quản lý của một tổ chức quản lý nghề cá khu vực theo cách thức không nhất quán hoặc trái với các biện pháp bảo tồn và quản lý của tổ chức, treo cờ của quốc gia không phải là thành viên của tổ chức, không hợp tác với tổ chức theo quy định của tổ chức; hoặc

(l) không mang quốc tịch và do vậy là tàu không có quốc gia chủ quyền, theo luật quốc tế.

Điều 12 . Giấy chứng nhận khai thác

1. Việc nhập khẩu vào lãnh thổ Cộng đồng các sản phẩm thủy sản có nguồn gốc từ hành vi đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định bị nghiêm cấm.

2. Nhằm đảm bảo tính hiệu quả của lệnh cấm quy định tại khoản 1, các sản phẩm thủy sản chỉ được phép nhập khẩu vào lãnh thổ Cộng đồng nếu có giấy chứng nhận khai thác phù hợp với Quy định này.

3. Giấy chứng nhận khai thác quy định tại khoản 2 được chứng thực bởi quốc gia tàu treo cờ hoặc bởi tàu đánh bắt đã thực hiện hoạt động đánh bắt sản phẩm thủy sản mà tàu chuyên chở. Giấy chứng nhận có tác dụng chứng nhận rằng việc đánh bắt được tiến hành theo đúng luật pháp, quy định, các biện pháp bảo tồn và quản lý quốc tế được áp dụng.

4. Giấy chứng nhận khai thác cung cấp đầy đủ thông tin cụ thể hóa trong mẫu Phụ lục II, được chứng thực bởi một cơ quan công quyền của quốc gia tàu treo cờ có đủ thẩm quyền chứng nhận độ chính xác của thông tin. Với sự đồng ý của quốc gia tàu treo cờ, trong khuôn khổ hợp tác quy định tại Điều 20(4), giấy chứng nhận khai thác sẽ được làm, được chứng thực và trình thông qua phương tiện điện tử hoặc được thay thế bởi các hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử đảm bảo mức độ kiểm soát tương đương của các cơ quan chức năng.

5. Danh sách trong Phụ lục 1 về các sản phẩm nằm ngoài phạm vi áp dụng của giấy chứng nhận khai thác có thể được rà soát hàng năm trên cơ sở kết quả thu thập thông tin như quy định trong các Chương II, III, IV, V, VIII, X và XII, và được sửa đổi tuân theo quy trình quy định tại Điều 54(2).

Điều 13. Hồ sơ giấy chứng nhận khai thác được thống nhất và có hiệu lực trong khuôn khổ một tổ chức quản lý nghề cá khu vực

1. Giấy chứng nhận khai thác và mọi tài liệu liên quan, được chứng thực tuân theo cơ chế giấy chứng nhận khai thác, được thông qua bởi một tổ chức quản lý nghề cá khu vực, được thừa nhận đã tuân thủ với các yêu cầu đặt ra của Quy định này, sẽ được chấp nhận là giấy chứng nhận khai thác sản phẩm thủy sản cho các loài áp dụng cơ chế giấy chứng nhận khai thác, và sẽ chịu sự kiểm tra, thẩm tra của quốc gia thành viên nhập khẩu sản phẩm đó theo quy định tại các Điều 16 và 17, thuộc đối tượng điều chỉnh của các điều khoản từ chối nhập khẩu quy định tại Điều 18. Danh mục hồ sơ giấy chứng nhận khai thác được quy định theo quy trình tại Điều 54(2).

2. Khoản 1 được áp dụng mà không gây tổn hại đến các quy định cụ thể có hiệu lực, theo đó cơ chế giấy chứng nhận khai thác được áp dụng trong luật pháp của Cộng đồng.

Điều 14. Nhập khẩu gián tiếp các sản phẩm thủy sản

1. Để nhập khẩu các sản phẩm thủy sản trong một lô hàng duy nhất, được vận chuyển theo cùng cách thức tới Cộng đồng từ một nước thứ ba không phải quốc gia tàu treo cờ, bên nhập khẩu cần cung cấp cho các cơ quan chức năng của quốc gia thành viên nhập khẩu các giấy tờ sau đây:

(a) giấy chứng nhận (bộ giấy chứng nhận) khai thác được chứng thực bởi quốc gia tàu treo cờ; và

(b) giấy tờ chứng minh sản phẩm thủy sản không trải qua các công đoạn nào khác ngoài hoạt động bốc, dỡ hay các hoạt động có tính chất giữ nguyên trạng sản phẩm trong điều kiện tốt, và vẫn chịu sự giám sát của các cơ quan chức năng của nước thứ ba đó.

Chứng từ sẽ được cung cấp dưới các hình thức sau:

(i) ở đâu phù hợp, chứng từ vận chuyển duy nhất cho đoạn đường từ lãnh thổ của quốc gia tàu treo cờ qua nước thứ ba; hay

(ii) giấy tờ do cơ quan chức năng của nước thứ ba cung cấp:

— mô tả chính xác sản phẩm thủy sản, ngày bốc dỡ sản phẩm, và ở đâu phù hợp, tên tàu và các phương tiện vận chuyển sử dụng, và

— nêu điều kiện lưu giữ sản phẩm thủy sản đó tại nước thứ ba.

Nếu loài thủy sản là đối tượng của cơ chế giấy chứng nhận khai thác của một tổ chức quản lý nghề cá khu vực như được quy định trong Điều 13, chứng từ nói trên có thể được thay thế bằng giấy chứng nhận tái xuất, miễn là nước thứ ba đó đã hoàn thành nghĩa vụ thông báo.

2. Để nhập khẩu các sản phẩm thủy sản trong một lô hàng duy nhất và đã được chế biến tại một nước thứ ba không phải là quốc gia tàu treo cờ, bên nhập khẩu phải trình cơ quan chức năng của quốc gia thành viên nhập khẩu giấy chứng nhận của nhà máy chế biến của quốc gia thứ ba đó, có chứng thực của các cơ quan chức năng theo biểu mẫu tại Phụ lục IV:

(a) mô tả chính xác sản phẩm chưa qua chế biến, sản phẩm đã được chế biến, số lượng tương ứng;

(b) nêu rõ sản phẩm chế biến đã được chế biến tại nước thứ ba đó từ những sản phẩm đánh bắt là đối tượng của giấy chứng nhận khai thác được chứng thực bởi quốc gia tàu treo cờ; và

(c) có kèm theo:

(i) bản gốc giấy chứng nhận khai thác theo đó, tổng số lượng đánh bắt đã được chế biến thành sản phẩm thủy sản được xuất khẩu trong cùng một lô hàng duy nhất, hoặc

(ii) một bản sao giấy chứng nhận khai thác, theo đó một phần số lượng đánh bắt đã được chế biến thành sản phẩm thủy sản được xuất khẩu trong cùng một lô hàng duy nhất.

Nếu loài thủy sản đó là đối tượng của cơ chế giấy chứng nhận khai thác của một tổ chức quản lý nghề cá khu vực được quy định tại Điều 13, giấy chứng nhận đó có thể được thay bằng giấy chứng nhận tái xuất, miến là nước thứ ba tại đó sản phẩm thủy sản được chế biến đã hoàn thành nghĩa vụ thông báo.

3. Các chứng từ và giấy chứng nhận quy định tại các Điều (1)(b) và (2) của Điều này sẽ được truyền đi bằng phương tiện điện tử trong khuôn khổ hợp tác quy định tại Điều 20(4).

Điều 15. Xuất khẩu hàng thủy sản đánh bắt bởi tàu treo cờ của một quốc gia thành viên

1. Việc xuất khẩu các sản phẩm đánh bắt bởi tàu treo cờ một quốc gia thành viên phải có giấy chứng nhận khai thác được chứng thực bởi cơ quan chức năng của quốc gia thành viên tàu treo cờ đó, theo Điều 12(4), nếu được yêu cầu trong khuôn khổ hợp tác quy định tại Điều 20(4).

2. Quốc gia tàu treo cờ phải báo trước cho Ủy ban cơ quan chức năng có thẩm quyền chứng thực giấy chứng nhận khai thác quy định tại khoản 1.

Điều 16. Trình và kiểm tra giấy chứng nhận khai thác

1. Giấy chứng nhận hợp lệ được bên nhập khẩu trình cơ quan chức năng của quốc gia thành viên hàng dự kiến được nhập vào ít nhất là 3 ngày làm việc trước khi hàng về đến cửa khẩu vào lãnh thổ Cộng đồng. Thời hạn 3 ngày làm việc có thể được điều chỉnh tùy theo loại sản phẩm thủy sản, khoảng cách từ cửa khẩu vào lãnh thổ Cộng đồng và phương tiện vận chuyển được sử dụng. Cơ quan chức năng sẽ kiểm tra giấy chứng nhận khai thác thủy sản trên cơ sở quản lý rủi ro theo thông tin được thông báo từ quốc gia tàu treo cờ như quy định tại Điều 20 và 22.

2. Khác với quy định tại khoản 1, bên nhập khẩu được trao quy chế đối tác kinh tế được phê duyệt có thể tư vấn cho cơ quan chức năng của quốc gia thành viên việc hàng đến trong thời hạn quy định tại khoản 1 và giữ giấy chứng nhận hợp lệ cùng các chứng từ liên quan khác quy định tại Điều 14 để cán bộ chức năng có thể kiểm tra theo khoản 1 của Điều này hoặc thẩm tra theo quy định tại Điều 17.

3. Tiêu chí trao quy chế đối tác kinh tế được phê duyệt cho bên nhập khẩu bởi các cơ quan chức năng của quốc gia thành viên bao gồm:

(a) công ty nhập khẩu đó phải được thành lập trên lãnh thổ của quốc gia thành viên đó;

(b) thực hiện số lần và khối lượng nhập khẩu đủ lớn cho thấy việc triển khai thực hiện các quy trình quy định tại khoản 2;

(c) có đủ ghi nhận về sự tuân thủ mọi yêu cầu của các biện pháp bảo tồn và quản lý;

(d) có một hệ thống thông tin quản lý lưu giữ đầy đủ thông tin thương mại, và ở đâu phù hợp, thông tin vận chuyển, chế biến cho phép cán bộ chức năng có thể kiểm tra, thẩm tra vì mục đích của Quy định này;

(e) có phương tiện phục vụ việc tiến hành kiểm tra và thẩm tra;

(f) ở đâu phù hợp, có chuẩn mực chức năng thực tế hoặc trình độ nghề nghiệp trực tiếp liên quan đến hoạt động thực hiện; và

(g) ở đâu phù hợp, có khả năng tài chính.

Các quốc gia thành viên phải thông báo cho Cộng đồng tên và địa chỉ của các đối tác kinh tế được phê duyệt sớm nhất có thể sau khi trao quy chế đó. Cộng đồng sẽ đưa thông tin đó tới các nước thành viên qua phương tiện điện tử.

Nguyên tắc liên quan đến quy chế đối tác kinh tế được phê duyệt có thể được quy định theo quy trình tại Điều 54(2).

Điều 18. Từ chối nhập khẩu

1. Ở đâu phù hợp, cơ quan có chức năng của các nước thành viên sẽ từ chối nhập khẩu vào Cộng đồng các sản phẩm thủy sản mà không cần đề nghị chứng cứ bổ sung hay đề nghị quốc gia tàu treo cờ giúp đỡ nếu thấy rằng:

(a) bên nhập khẩu không thể trình giấy chứng nhận khai thác sản phẩm thủy sản liên quan hay hoàn thành mọi nghĩa vụ theo Điều 16(1) hoặc (2);

(b) sản phẩm dự kiến nhập khẩu không cùng chủng loại với sản phẩm ghi trong giấy chứng nhận khai thác;

(c) giấy chứng nhận khai thác không được chứng thực bởi cơ quan công quyền của quốc gia tàu treo cờ theo Điều 12(3);

(d) giấy chứng nhận khai thác không cung cấp đầy đủ mọi thông tin yêu cầu;

(e) bên nhập khẩu không thể chứng minh sản phẩm thủy sản tuân thủ các điều kiện nêu tại Điều 14(1) hoặc (2);

(f) tàu đánh bắt thể hiện trên giấy chứng nhận khai thác là tàu thực hiện đánh bắt bị đưa vào danh sách tàu đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định của Cộng đồng hoặc trong danh sách tàu đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định đề cập tại Điều 30;

(g) giấy chứng nhận khai thác được chứng thực bởi cơ quan chức năng của quốc gia tàu treo cờ đã được xác định là quốc gia không hợp tác theo Điều 31.

2. Ở đâu phù hợp, cơ quan chức năng của các nước thành viên sẽ từ chối nhập khẩu sản phẩm thủy sản vào Cộng đồng sau khi đề nghị giúp đỡ theo Điều 17(6), mà:

(a) nhận được câu trả lời, theo đó, bên xuất khẩu không đươc quyền đề nghị chứng thực giấy chứng nhận khai thác;

(b) nhận được câu trả lời, theo đó, sản phẩm thủy sản không tuân thủ các biện pháp bảo tồn và quản lý, hoặc các điều kiện khác quy định tại Chương này không được đáp ứng; hoặc

(c) không nhận được câu trả lời trong thời hạn đã nêu; hoặc

(d) nhận được câu trả lời không đúng câu hỏi nêu trong đề nghị.

3. Trường hợp từ chối nhập khẩu theo khoản (1) và (2), quốc gia thành viên sẽ tịch thu, hủy, vứt bỏ hoặc bán sản phẩm thủy sản theo luật pháp của nước sở tại. Lợi nhuận bán hàng có thể được dùng cho mục đích nhân đạo.

4. Bất kỳ ai cũng có quyền kháng cáo lại quyết định của các cơ quan chức năng theo khoản (1), (2) hoặc (3) liên quan đến mình. Quyền kháng cáo được thực hiện theo các điều khoản có hiệu lực của quốc gia thành viên liên quan.

5. Cơ quan chức năng của các quốc gia thành viên phải thông báo cho quốc gia tàu treo cờ và, ở nơi nào phù hợp, thông báo cho nước thứ ba không phải quốc gia tàu treo cờ theo Điều 14 quyết định từ chối nhập khẩu. Một bản sao thông báo phải được gửi tới Ủy ban.

Văn bản đầy đủ Quy định số 1005/2008, xem file đính kèm. 

 

TIN MỚI CẬP NHẬT

Brazil – Paraguay thúc đẩy nuôi cá rô phi tại hồ thủy điện Itaipu

 |  09:33 11/05/2026

(vasep.com.vn) Bộ trưởng Thủy sản và Nuôi trồng Thủy sản Brazil Edipo Araujo vừa có chuyến công tác tới bang São Paulo nhằm khảo sát mô hình nuôi cá rô phi tại khu vực Águas da União, trong khuôn khổ hợp tác kỹ thuật giữa Brazil và Paraguay. Chuyến thăm tập trung vào việc đánh giá tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản tại hồ chứa của Nhà máy Thủy điện Itaipu – một trong những công trình thủy điện lớn nhất thế giới, nằm tại Foz do Iguaçu.

Phụ phẩm trứng mở hướng thay thế nguyên liệu biển trong thức ăn tôm

 |  09:30 11/05/2026

(vasep.com.vn) Phụ phẩm từ trứng đang được đánh giá là nguồn nguyên liệu giàu cholesterol và phospholipid có khả năng thay thế một phần nguyên liệu biển truyền thống trong thức ăn tôm thẻ chân trắng.

Xuất khẩu cua Nga tăng 10% năm 2025

 |  09:29 11/05/2026

(vasep.com.vn) Nga ghi nhận tăng trưởng xuất khẩu cua trong năm 2025, nhưng giá trị gần như không tăng do giá giảm tại các thị trường chủ lực, đặc biệt là Trung Quốc.

Giảm số tàu cá chưa đủ giải quyết khủng hoảng ngành thủy sản EU

 |  09:27 11/05/2026

(vasep.com.vn) Một báo cáo mới của Ủy ban châu Âu cho thấy ngành khai thác thủy sản EU đang đối mặt nhiều thách thức nghiêm trọng, dù đội tàu đã liên tục thu hẹp về quy mô và công suất. Nghiên cứu do Cơ quan Điều hành Khí hậu, Hạ tầng và Môi trường châu Âu (CINEA) đặt hàng chỉ ra rằng việc “giảm tải” này vẫn chưa giải quyết được sự mất cân đối giữa năng lực khai thác và nguồn lợi thủy sản.

Tôm Ấn Độ xoay trục thị trường, tôm Việt Nam chịu thêm sức ép cạnh tranh

 |  09:24 11/05/2026

(vasep.com.vn) Xuất khẩu tôm Ấn Độ bước vào năm 2026 với bức tranh hai chiều: sản lượng và khối lượng xuất khẩu vẫn duy trì tốt, nhưng thị trường Mỹ suy giảm mạnh do áp lực thuế quan và các vụ việc phòng vệ thương mại. Trong bối cảnh đó, Ấn Độ đang tăng tốc chuyển hướng sang Trung Quốc, EU và Nhật Bản, tạo thêm sức ép cạnh tranh cho các nhà cung cấp tôm khác, trong đó có Việt Nam.

Đại học Hải dương Thượng Hải thúc đẩy an ninh lương thực toàn cầu bằng công nghệ chọn giống cá

 |  07:36 08/05/2026

Các nhà khoa học quốc tế tại Đại học Hải dương Thượng Hải (SHOU) đang tận dụng công nghệ của Trung Quốc để thúc đẩy an ninh lương thực toàn cầu thông qua nghiên cứu nguồn gen thủy sản.

Thủy sản EU thích nghi với trạng thái mới

 |  07:33 08/05/2026

(vasep.com.vn) Một báo cáo mới công bố của Đài quan sát Thị trường Thủy sản và Nuôi trồng Thủy sản châu Âu (EUMOFA) tại Hội chợ Thủy sản Toàn cầu 2026 cho thấy ngành thủy sản EU đang phải thích nghi với giai đoạn biến động kéo dài sau hàng loạt cú sốc từ năm 2019 đến nay.

Xuất khẩu cá minh thái Nhật Bản tăng mạnh 42%, vượt 62.000 tấn

 |  07:31 08/05/2026

(vasep.com.vn) Theo báo cáo mới từ Minato Shimbun, xuất khẩu cá minh thái đông lạnh của Japan trong năm 2025 tăng 42% so với cùng kỳ năm trước, đạt hơn 62.000 tấn, đánh dấu sự phục hồi sau hai năm suy giảm.

Sửa đổi, bổ sung một số quy định về Thuế giá trị gia tăng

 |  16:28 07/05/2026

Chính phủ ban hành Nghị định số 144/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 1/7/2025 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 359/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025.

VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM

Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội

Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO

Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu

Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông

Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn

Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh

Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn

VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội

Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn

© Copyright 2020 - Mọi hình thức sao chép phải được sự chấp thuận bằng văn bản của VASEP

DANH MỤC