Tồn tại trên dẫn đến khó kiểm soát chất lượng sản phẩm, chất lượng sản phẩm không đồng đều; khó ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật tăng năng suất nhằm giảm giá thành; khó ứng dụng các quy trình nuôi quốc tế như ASC, BAP; khó trong việc đánh mã số cơ sở nuôi… Quả là ba lời nguyền như một lực cản vô hình khắc chế ngành tôm tăng tốc vươn tầm.
Trong hoàn cảnh như vậy, chúng ta có chỉ tiêu tăng trưởng ngành khá cao, gần 8% mỗi năm. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực lớn hơn của toàn ngành. Nhìn các cường quốc tôm như Ecuador, Ấn Độ; họ đã đạt ngưỡng triệu tấn tôm, đã đạt kim ngạch xuất khẩu tôm 5 tỷ đô la mỗi năm. Họ có tốc độ tăng trưởng rất cao, nhất là ở Ecuador. Chúng ta nên nhìn họ để rút ra bài học kinh nghiệm cho mình, chú ý diện tích nuôi tôm của họ thấp hơn con số khoảng 800.000 hecta của Việt Nam. Ở đây, tôi nêu ra suy nghĩ về các giải pháp chủ động tăng nguồn nguyên liệu tôm một cách bền vững trên thực trạng hiện nay:
Yếu tố quan tâm đầu tiên là sự đổi mới của mảng nuôi nhỏ lẻ với chuỗi hợp tác mới và quy trình nuôi mới
Sản lượng tôm nuôi của ta có được hơn 90% từ các cơ sở nuôi nhỏ lẻ. Điều đó nói lên vai trò của hộ nuôi hiện nay, dù phân tích việc nuôi nhỏ lẻ này tiềm ẩn nhiều nguy cơ và hiệu quả nuôi không cao. Chúng ta biết giai đoạn khủng hoảng trong nuôi tôm 2010-2015 đã khiến hầu hết các hộ nuôi nhỏ lẻ mất vốn, giấy đất đã cầm ở ngân hàng. Họ chỉ nuôi cầm chừng theo sự đầu tư từ các thương lái trong khu vực. Chính phủ, ngành đã có nhiều giải pháp nhưng không thể vãn hồi tình hình, ngân hàng thương mại không thể cung ứng vốn cho họ vì rủi ro cao, vả lại họ không còn gì thế chấp.
Từ năm 2018 một chuỗi liên kết nuôi mới xuất hiện gồm nhà cung ứng giống, thức ăn, ngân hàng, thương lái và người nuôi tôm. Thương lái chi tiền các hộ nuôi trong khu vực chuộc lại giấy đất từ ngân hàng và thế chấp lại ngân hàng trong chuỗi với giá cao hơn, có dôi ra tiền để đầu tư nuôi tôm. Thương lái sẽ hỗ trợ kỹ thuật làm ao mới, nuôi quy trình mới do nhà cung ứng giống, thức ăn đề ra. Vật tư đầu vào thương lái đầu tư và nhận lại từ tiền bán tôm cuối vụ. Chuỗi hợp tác này diễn ra hơn 4 năm qua, khá thành công. Nhiều nhà cung ứng giống, thức ăn khác hình thành chuỗi tương tự, tạo ra làn gió mới trong nuôi tôm tới tận các vùng khá sâu xa.
Tuy chưa có tổng kết cụ thể, nhưng qua thông tin ao nuôi theo mô hình mới này có tỉ lệ thành công rất cao, trên 90%. Một ao nuôi này mỗi năm thu từ 5-10 tấn, và là nguồn cung ứng tôm nuôi cỡ lớn cho DN tôm mấy năm qua. Hiện nay riêng chuỗi hình thành đầu tiên là C.P đã có trên 20.000 ao hoàn chỉnh và cũng ngần đó ao hoàn chỉnh phân nửa. Nuôi nhỏ lẻ kiểu mới này sẽ có tỉ lệ rủi ro thấp đi và tỉ lệ thành công cao lên. Chắc chắn mô hình này đã góp phần đáng kể để có cái nhìn mới về nuôi nhỏ lẻ. Thiết nghĩ mô hình này cần được cơ quan chức năng quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu, tổng kết, phát huy và ít ra là sự động viên kịp thời, bởi mô hình này trong tương lai sẽ cung ứng lượng tôm nguyên liệu đáng kể, nếu không nói là chủ lực.
Vai trò của nuôi quy mô trang trại trong nỗ lực vươn tầm của toàn ngành
Với mô hình nuôi chuỗi liên kết mới nêu trên ít nhiều thuận lợi cho việc đánh mã số cơ sở nuôi. Đó chỉ mới đáp ứng yêu cầu chung của tất cả thị trường. Nhưng các hệ thống phân phối lớn, cao cấp đòi hỏi cao hơn, nguồn nguyên liệu phải được nuôi theo chuẩn thị trường yêu cầu, thời sự nhất là nuôi theo chuẩn ASC. Các hộ nuôi nhỏ lẻ khó ứng dụng ASC vì chi phí nặng, chỉ các trang trại nuôi quy mô hàng chục, hàng trăm hecta mới cáng đáng nổi chuyện này. Thực trạng nuôi là nhỏ lẻ, manh mún nên vì sao đến nay diện tích nuôi tôm đạt chuẩn ASC còn rất thấp, chưa tới 1% diện tích nuôi tôm cả nước.
Cái cần cấp bách hiện nay là đất nuôi tập trung, nên chăng có chính sách nới rộng hạn điền để tới đây hình thành thêm hàng trăm, hàng ngàn trang trại nuôi chuẩn ASC, đạt khoảng 10% diện tích nuôi tôm. Riêng các hợp tác xã nuôi tôm đang có chỉ là số cộng các hộ nuôi nhỏ lẻ, chỉ có ích trong việc trao đổi thông tin, phối hợp tìm nguồn cho đầu vào và phối hợp tiêu thụ sản phẩm, chưa có điều kiện để ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật để có các lợi điểm như đã phân tích.
Tóm lại, quy mô nuôi lớn, có quy hoạch bài bản mới có điều kiện ứng dụng các thành tựu cuộc CMCN4.0 nhằm giảm thiểu rủi ro, tăng năng suất, giảm giá thành tăng sức cạnh tranh, sản phẩm có chất lượng đồng đều và nhất là đủ điều kiện để thâm nhập các hệ thống phân phối cao cấp, tiêu thụ giá tốt hơn, góp phần to lớn nâng tầm tôm Việt. Thiết nghĩ, chính sách nới rộng hạn điền trong nuôi tôm có sớm, tôm từ các trang trại sẽ là nguồn cung lớn thứ hai cho các DN tôm và là lực thúc đẩy mạnh mẽ nhất nâng tầm tôm Việt.
Vai trò của mô hình tôm rừng, tôm lúa
Tôm rừng, tôm lúa cũng là nguồn cung đáng kể, có thể đạt tới hàng trăm ngàn tấn hàng năm. Tôm từ nguồn này có thể xây dựng thương hiệu riêng mang lại lợi ích cho người nuôi lẫn DN. Tuy nhiên, theo hoàn cảnh, DN nào gần vùng nguyên liệu sẽ có lợi thế hơn. Việc xây dựng thương hiệu tôm rừng, tôm lúa chắc cần có sự tham gia của DN lẫn cơ quan chuyên môn, bởi triển khai việc này không dễ do sản lượng tôm từ các nguồn này khá bấp bênh. Bấp bênh trong tôm rừng là khó chủ động kiểm soát thu hoạch, bấp bênh trong tôm lúa là sản lượng từng ao thấp, việc thu gom sẽ khó khăn.
Giải pháp cơ bản thúc đẩy cho các mô hình nuôi nêu trên
Ba nguồn cung tôm nguyên liệu nêu trên là trọng điểm trong tương lai. Nhìn về hiện tại thì nguồn cung từ nuôi nhỏ lẻ manh mún vẫn còn là chủ lực. Người nuôi nhỏ lẻ đối diện rủi ro rất cao là do nuôi tự phát, phá vỡ quy hoạch, nên tình trạng nuôi thiếu nước nuôi và không nơi xử lý nước thải nên xả ra kênh chung khiến tôm dễ nhiễm chéo là phổ biến. Ứng xử vấn đề này thiết nghĩ việc hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng vùng nuôi là hết sức cần thiết và cấp thiết. Kinh phí có hạn, tập trung vùng trọng điểm. Cơ sở hạ tầng quan trọng nhất là thủy lợi, kế tiếp là điện và đường. Tỉnh Bạc Liêu làm rất tốt, hệ thống kênh dẫn nước biển nuôi tôm được đào sâu, mở rộng với quy mô lớn, thiết nghĩ là bài học cho các tỉnh có nuôi tôm còn lại.
Kết luận
Tóm lại, nguồn nguyên liệu tôm cho DN chế biến trong tương lai ngoài việc linh hoạt, chủ động từ người nuôi và các thành viên tích cực tham gia chuỗi nuôi còn phụ thuộc vào sự chỉ đạo của Chính phủ và cơ quan chức năng. Đó là tạo sự thông thoáng trong cơ chế hình thành các trang trại nuôi quy mô lớn, có tác dụng dẫn dắt toàn ngành trong việc nâng cao sức cạnh tranh với các cường quốc tôm thế giới; đó là sự quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng các vùng nuôi trọng điểm để nâng cao hiệu suất nuôi tốt hơn. Có như vậy, tôm Việt mới đạt các mục tiêu chiến lược đến năm 2030 đã đề ra và nâng cao khả năng vươn tầm hàng đầu thế giới.
TS. Hồ Quốc Lực - Nguyên Chủ tịch VASEP, Chủ tịch HĐQT FIMEX VN
(vasep.com.vn) Thị trường thủy sản thế giới ngày 18/9 ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý về thương mại, nguồn cung và chính sách quản lý. Mỹ tiếp tục gia tăng các công cụ kiểm soát thương mại và xuất xứ, trong khi Nga đẩy mạnh chuyển hướng xuất khẩu sang châu Á và BRICS. Các yêu cầu về truy xuất, phát thải và quản lý nghề cá tại Mỹ, EU cũng tiếp tục được siết chặt. Bên cạnh đó, Canada ghi nhận xuất khẩu thủy sản sang Việt Nam tăng mạnh trong 8 tháng đầu năm 2026.
(vasep.com.vn) Tập đoàn thủy sản đóng hộp Bumble Bee Foods sẽ đóng cửa nhà máy chế biến cá đóng hộp tại Santa Fe Springs, bang California (Mỹ), theo thông báo điều chỉnh và đào tạo lại lực lượng lao động (WARN) mà doanh nghiệp gửi chính quyền bang California.
(vasep.com.vn) Nhà sản xuất chả cá lớn của Hàn Quốc, Samjin Amook, vừa giới thiệu 7 bộ quà tặng chả cá phục vụ Tết Trung thu 2026, cho thấy xu hướng đa dạng hóa sản phẩm surimi tại thị trường này.
(vasep.com.vn) Cá tra đang được các doanh nghiệp thủy sản Nhật Bản quan tâm hơn trong bối cảnh giá nhiều loại cá thịt trắng truyền thống ở mức cao và nguồn cung biến động. Đáng chú ý, tập đoàn thủy sản Kyokuyo gần đây liên tục đưa cá tra vào nhóm sản phẩm được ưu tiên giới thiệu, nhấn mạnh lợi thế giá hợp lý và nguồn cung ổn định.
(vasep.com.vn) Một liên minh gồm các doanh nghiệp thủy sản, tổ chức phi chính phủ (NGO), nhóm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đầu bếp và nhiều bên liên quan đang khẩn thiết kêu gọi Ủy ban châu Âu (EC) mở rộng quy định bắt buộc về thông tin nhãn mác đối với mọi sản phẩm thủy sản. Liên minh cho rằng người tiêu dùng có thể mất quyền tiếp cận những thông tin quan trọng khi cá được đưa vào các sản phẩm chế biến. Đề xuất này được chiến dịch ‘Follow the Fish’ đưa ra trong cuộc gặp mới đây với Ủy viên châu Âu phụ trách Thủy sản và Đại dương Costas Kadis. Theo đó, chiến dịch kiến nghị EU cần gấp rút sửa đổi Quy định về Tổ chức Thị trường chung (CMO) đối với các sản phẩm thủy sản và nuôi trồng thủy sản.
(vasep.com.vn) Thị trường thủy sản thế giới ngày 17/9 ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý về nhu cầu, nguồn cung và chính sách thương mại. Mỹ tăng nhập khẩu tôm, trong khi kiểm soát xuất xứ cá ngừ được đẩy mạnh. Trung Quốc tiếp tục tăng nhập khẩu cá hồi, còn giá bột cá, cá minh thái và nhiều nhóm thủy sản vẫn chịu áp lực nguồn cung. Tại EU, yêu cầu truy xuất đối với thủy sản chế biến được đề xuất mở rộng; trong khi Nhật Bản tiếp tục đối mặt với giá nguyên liệu cao.
(vasep.com.vn) Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ Rajnath Singh ngày 9/9 nhấn mạnh Ấn Độ và Sri Lanka cần phối hợp chặt chẽ để giải quyết các tranh chấp về nghề cá theo hướng cùng có lợi, đồng thời tôn trọng luật pháp và ranh giới tài phán trên biển.
(vasep.com.vn) Vương quốc Anh và Greenland đã nối lại đàm phán về thỏa thuận thương mại, được kỳ vọng giúp giảm giá một số sản phẩm thủy sản tại thị trường Anh, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp chế biến và chuỗi cung ứng.
(vasep.com.vn) Hội đồng Quốc tế Khám phá Biển (ICES) khuyến nghị tiếp tục duy trì lệnh cấm khai thác bằng ngư cụ tiếp xúc với đáy biển tại 13 khu vực ở Đông Bắc Đại Tây Dương sau ngày 31/12/2027. Các khu vực này được đóng cửa từ năm 2014 nhằm bảo vệ những hệ sinh thái biển dễ bị tổn thương.
(vasep.com.vn) Thị trường thủy sản thế giới ngày 16/9 ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý về nguồn cung, giá nguyên liệu và thương mại. Trung Quốc thiếu tôm nguyên liệu, trong khi Ấn Độ đối mặt nguy cơ giảm thả nuôi; Philippines mở đợt nhập khẩu thủy sản quy mô lớn trước mùa cấm khai thác. Bên cạnh đó, giá bột cá Peru tăng mạnh, nguồn cá hồi tự nhiên Nga tiếp tục suy giảm và nhập khẩu thăn cá ngừ vào EU tăng đáng kể. Việt Nam cũng kết thúc tháng cao điểm chống khai thác IUU, chuẩn bị tổng hợp kết quả báo cáo Ủy ban châu Âu trước ngày 1/10.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn