Về lý thuyết, lương tối thiểu là mức sàn để bảo vệ người lao động thu nhập thấp. Mặt khác, đây cũng là căn cứ để Nhà nước trích thu các khoản bảo hiểm, phí công đoàn, tính tiền làm thêm giờ… từ doanh nghiệp và người lao động. Các khoản đóng bảo hiểm được đưa vào Quỹ Bảo hiểm xã hội (BHXH) để tạo nguồn chi trả an sinh xã hội cho người lao động.
Điều này có nghĩa lương tối thiểu vùng là mức tiền lương tháng thấp nhất để tính mức đóng bảo hiểm. Các khoản trích nộp sẽ được điều chỉnh tùy theo độ tăng giảm của lương tối thiểu và tỷ lệ % đóng bảo hiểm.
Mức đóng BHXH hiện tại của Việt Nam đang cao nhất trong khu vực ASEAN, lên tới 32% tổng thu nhập tiền lương tháng (doanh nghiệp đóng 21,5%, người lao động đóng 10,5%). Đó là chưa kể 3% phí công đoàn (doanh nghiệp đóng 2%, người lao động đóng 1%).
Tại một số nước trong khu vực, tỷ lệ đóng bảo hiểm là 13% lương tháng tại Malaysia, tại Philippines là 10%, Indonesia 8%, Thái Lan 5%…
Trong vòng 9 năm, tỷ lệ đóng bảo hiểm của DN tăng từ 17% lên 21,5%, của NLĐ tăng từ 6% lên 10,5%. Mức đóng này cao đang cao nhất trong khu vực ASEAN. (Biểu đồ: Vĩnh Long)
Từ năm 2007 đến 2018, tỷ lệ đóng bảo hiểm được điều chỉnh tăng 9 điểm phần trăm, từ 23% lên 32% mức lương tối thiểu vùng. Không chỉ tỷ lệ đóng bảo hiểm tăng lên, mức lương tối thiểu vùng cũng được điều chỉnh tăng hàng năm. Điều này làm tăng mức đóng bảo hiểm tối thiểu.
Hai biểu đồ kèm bảng số liệu dưới đây thể hiện biên độ tăng và con số cụ thể đối với mức lương tối thiểu vùng qua các năm và mức trích đóng bảo hiểm tối thiểu qua các năm.
Cụ thể mức lương tối thiểu vùng qua các năm (đơn vị: đồng):
|
Năm |
Vùng I |
Vùng II |
Vùng III |
Vùng IV |
|
Từ 1/1/2009
đến 31/12/2009 |
800.000 |
740.000 |
690.000 |
650.000 |
|
Từ 1/1/2010
đến 31/12/2010 |
980.000 |
880.000 |
810.000 |
730.000 |
|
Từ 1/1/2011
đến 1/10/2011 |
1.350.000 |
1.200.000 |
1.050.000 |
830.000 |
|
Từ 1/10/2011
đến 31/12/2012 |
2.000.000 |
1.780.000 |
1.550.000 |
1.400.000 |
|
Từ 1/1/2013
đến 31/12/2013 |
2.350.000 |
2.100.000 |
1.800.000 |
1.650.000 |
|
Từ 1/1/2014 đến 31/12/2014 |
2.700.000 |
2.400.000 |
2.100.000 |
1.900.000 |
|
Từ 1/1/2015 |
3.100.000 |
2.750.000 |
2.400.000 |
2.150.000 |
|
Từ 1/1/2016 |
3.500.000 |
3.100.000 |
2.700.000 |
2.400.000 |
|
Từ 1/1/2017 |
3.750.000 |
3.320.000 |
2.900.000 |
2.580.000 |
|
Từ 1/1/2018 |
3.980.000 |
3.530.000 |
3.090.000 |
2.760.000 |
|
Từ 1/1/2019 |
4.180.000 |
3.710.000 |
3.250.000 |
2.920.000 |
Với lương tối thiểu vùng được điều chỉnh như trên, mức trích đóng bảo hiểm tối thiểu cũng thay đổi qua các năm như sau:
Mức trích đóng bảo hiểm tối thiểu tăng cao và tăng liên tục trong 10 năm qua. Chỉ duy nhất một lần giảm là trong 6 tháng cuối năm 2017 khi tỷ lệ đóng bảo hiểm điều chỉnh giảm từ 32,5% xuống 32%. Nhưng sau đó mức đóng bảo hiểm tối thiểu lại tăng do tiền lương tối thiểu tăng. (Biểu đồ: Vĩnh Long) (*)
Cụ thể mức trích đóng bảo hiểm tối thiểu qua các năm (đơn vị: đồng):
|
Năm |
Vùng I |
Vùng II |
Vùng III |
Vùng IV |
|
Từ 1/1/2009
đến 31/12/2009 |
200.000 |
185.000 |
172.500 |
162.500 |
|
Từ 1/1/2010
đến 31/12/2010 |
279.300 |
250.800 |
230.850 |
208.050 |
|
Từ 1/1/2011
đến 1/10/2011 |
384.750 |
342.000 |
299.250 |
236.550 |
|
Từ 1/10/2011
đến 31/12/2011 |
570.000 |
507.300 |
441.750 |
399.000 |
|
Từ 1/1/2012 đến 1/1/2013 |
610.000 |
542.900 |
472.750 |
427.000 |
|
Từ 1/1/2013
đến 31/12/2013 |
716.750 |
640.500 |
549.000 |
503.250 |
|
Từ 1/1/2014 đến 31/12/2014 |
877.500 |
780.000 |
682.500 |
617.500 |
|
Từ 1/1/2015 |
1.007.500 |
893.750 |
780.000 |
698.750 |
|
Từ 1/1/2016 |
1.137.500 |
1.007.500 |
877.500 |
780.000 |
|
Từ 1/1/2017 đến 1/5/2017 |
1.218.750 |
1.079.000 |
942.500 |
838.500 |
|
Từ 1/6/2017 đến 31/12/2017 |
1.200.000 |
1.062.400 |
928.000 |
825.600 |
|
Từ 1/1/2018 đến 1/1/2019 |
1.273.600 |
1.129.600 |
988.800 |
883.200 |
|
Từ 1/1/2019 (dự kiến) |
1.337.600 |
1.187.200 |
1.040.000 |
934.400 |
Mức trích đóng bảo hiểm tối thiểu cao nhất hiện nay là hơn 1,2 triệu đồng/tháng (vùng I). Với việc mức lương tối thiểu vùng năm 2019 tăng 5,3% so với năm 2018, nếu tỷ lệ trích đóng bảo hiểm không đổi (32%), dự kiến mức trích đóng bảo hiểm tối thiểu trong năm 2019 sẽ tăng lên hơn 1,3 triệu đồng/tháng (vùng I).
Ngoài ra, vì từ năm 2016, các khoản trích đóng BHXH được bổ sung thêm: không chỉ tính trên mức lương cơ bản (trước ngày 1/1/2016), mà bao gồm mức lương cơ bản và phụ cấp (từ ngày 1/1/2016), gồm mức lương cơ bản, phụ cấp và các khoản bổ sung khác (từ ngày 1/1/2018), theo đó, mức trích đóng bảo hiểm tính theo lương cơ bản theo bảng trên chỉ là mức trích đóng thấp nhất, chưa bao gồm mức trích đóng trên phụ cấp và các khoản bổ sung khác.
Tháng 3 vừa qua, trong văn bản gửi Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH, Bộ NN&PTNN và Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI), Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) đã đề xuất trở về mức đóng BHXH năm 2010 (giảm 4% so với hiện tại) và giảm 1% phí công đoàn để giảm áp lực tài chính đối với doanh nghiệp và người lao động.
Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) từ lâu đã chỉ ra tốc độ tăng lương tối thiểu vùng của Việt Nam rất không tương ứng với tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Trong giai đoạn 2009-2016, tốc độ tăng tiền lương tối thiểu vùng bình quân cao hơn gần 4 lần so với tốc độ tăng GDP và cao hơn 3 lần so với tốc độ tăng CPI.
Thậm chí, tốc độ tăng lương tối thiểu cao hơn nhiều so với tốc độ tăng năng suất lao động. Thời gian qua, lương tối thiểu tăng từ 8-12%, trong khi tốc độ tăng năng suất lao động là 4-5%. Mức đóng bảo hiểm 22% lương tháng mà doanh nghiệp đang gánh là cao hơn nhiều về cả tỷ lệ (10% tại Thái Lan, 13% tại Malaysia, 10% tại Philippines, 8% tại Indonesia…) lẫn sự thiếu hợp lý khi năng suất lao động thấp hơn nhưng lại phải đóng mức bảo hiểm cao gấp nhiều lần.
Thống kê cho thấy mức đóng bảo hiểm tối thiểu liên tục tăng từ 2009 tới nay. Nếu tỷ lệ đóng bảo hiểm 32% tiếp tục áp dụng trong năm 2019, thì với mức tăng lương tối thiểu mới thông qua, tại vùng I, mức thu bảo hiểu tối thiểu sẽ tăng lên hơn 1,3 triệu đồng/tháng, tăng 568% so với năm 2009 (200.000 đồng/tháng). Tại vùng IV, mức đóng bảo hiểm tối thiểu cũng tăng tới 475%.
Thu nhập và bảo hiểm là hai nguồn tài chính đảm bảo đời sống của người lao động. Mức đóng bảo hiểm tối thiểu đang được xác định dựa trên mức lương tối thiểu. Nhưng khi mức lương tối thiểu liên tục được điều chỉnh tăng song không phản ánh mức tăng của năng suất lao động, không tương ứng với tốc độ tăng trưởng GDP và đồng đều với chỉ số giá tiêu dùng, thì việc đóng bảo hiểm trở thành gánh nặng cho doanh nghiệp, chi phí sản xuất của doanh nghiệp leo thang, làm tăng nguy cơ người lao động bị trốn đóng bảo hiểm, bị sa thải.
Lúc này, quỹ bảo hiểm cũng như lương tối thiểu đã đi ngược với mục tiêu ban đầu của nó, là bảo đảm an sinh cho người lao động.
Bản dự báo ngư trường do Trung tâm Nghiên cứu Hải sản phía Bắc thực hiện và cung cấp. VASEP xin đăng tải theo khuôn khổ hợp tác giữa hai bên. Bản dự báo có giá trị tham khảo, giúp doanh nghiệp, bạn đọc có thêm thông tin về diễn biến ngư trường khai thác theo tuần và theo tháng.
(vasep.com.vn) Giữa tháng 5/2026, thị trường bột cá toàn cầu ghi nhận đợt tăng giá mạnh khi nguồn cung từ Peru bị gián đoạn nghiêm trọng. Giá CNF của bột cá siêu cấp Peru xuất khẩu sang Trung Quốc đã tăng lên khoảng 2.800 USD/tấn, trong khi giá giao ngay nội địa tại Trung Quốc đạt 19.400–19.500 NDT/tấn, liên tục lập mức cao mới.
(vasep.com.vn) Dịch bệnh trên tôm, đặc biệt là EHP, đang diễn biến phức tạp, gây nhiều khó khăn cho người nuôi trong bối cảnh môi trường ao nuôi biến động mạnh. Nội dung này được các nhà khoa học và doanh nghiệp thảo luận tại Hội nghị Khoa học thủy sản Đại học Cần Thơ ngày 6/5.
(vasep.com.vn) Cùng với phát triển nuôi tôm công nghệ cao, Hà Tĩnh đang đẩy mạnh nuôi các đối tượng thủy sản nước ngọt có giá trị kinh tế, trong đó mô hình nuôi cá diêu hồng mang lại hiệu quả ổn định và phù hợp với định hướng nuôi trồng bền vững của địa phương.
(vasep.com.vn) Trong 4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu cá rô phi Việt Nam đạt 49 triệu USD, tăng 151% so với cùng kỳ năm 2025. Con số này phản ánh một ngành xuất khẩu mới nổi đang tận dụng khoảng trống thị trường do biến động thương mại toàn cầu tạo ra, trong khi các nhà sản xuất lớn hơn đang điều chỉnh chiến lược của mình.
(vasep.com.vn) Công nghệ Biofloc đang được thí điểm tại một số mô hình lúa – tôm ở Cà Mau, bước đầu cho thấy hiệu quả trong kiểm soát môi trường ao nuôi, nâng cao chất lượng tôm giống và hướng tới phát triển thủy sản bền vững.
(vasep.com.vn) Vùng ven biển Dakhla-Oued Eddahab hiện chiếm hơn 70% tổng sản lượng nuôi biển của Morocco, trở thành động lực chính thúc đẩy chiến lược phát triển ngành nuôi trồng thủy sản bền vững của quốc gia Bắc Phi này.
(vasep.com.vn) Xuất khẩu tôm của Ấn Độ gần như đi ngang trong quý I/2026 khi nhu cầu suy yếu tại Mỹ làm giảm tác động từ tăng trưởng mạnh ở Trung Quốc và EU. Theo số liệu mới nhất, tổng xuất khẩu tôm của Ấn Độ (HS 030617, HS 160521, HS 160529) trong tháng 3/2026 đạt 63.475 tấn, giảm 5% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế quý I đạt 164.568 tấn, gần như không đổi so với cùng kỳ 2025. Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu giảm mạnh hơn sản lượng: tháng 3 đạt 430 triệu USD, giảm 9%; lũy kế quý I đạt 1,116 tỷ USD, giảm 5%.
(vasep.com.vn) Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) công nhận nghề cá cơm Peru là mô hình quản lý thủy sản hàng đầu thế giới, nhờ hệ thống quản lý dựa trên khoa học và khả năng thích ứng cao với biến động môi trường. Đánh giá được đưa ra trong báo cáo mới về tương lai ngành thủy sản và nuôi trồng thủy sản Peru.
(vasep.com.vn) Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. đã đề cập đến khả năng xuất khẩu cá ngừ, cá mòi, cá măng và các sản phẩm khác sang Paraguay trong cuộc gặp song phương với Tổng thống Paraguay Santiago Peña Palacios đang thăm Philippines.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn