Phát biểu tại hội thảo, đồng chí Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, cho rằng mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10% trở lên trong giai đoạn 2026-2030 đặt ra yêu cầu phải có cách tiếp cận mới, thực chất hơn. Theo ông, tăng trưởng hai con số không thể chỉ dựa vào các động lực cũ, mà cần khơi thông các nguồn lực đang bị nghẽn, giải phóng sức sản xuất, củng cố niềm tin cho doanh nghiệp và đưa khu vực kinh tế tư nhân trở thành động lực phát triển mạnh mẽ, bền vững của nền kinh tế.
Chủ tịch VCCI nhấn mạnh, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở chủ trương mà còn ở khâu thực thi. Doanh nghiệp vẫn gặp khó từ thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, kiểm tra chuyên ngành, quy định chồng chéo, thiếu ổn định và khó dự báo. Vì vậy, cải cách điều kiện kinh doanh phải đi vào thực chất, không chỉ giảm số lượng giấy phép mà phải tạo ra môi trường kinh doanh dễ hiểu hơn, ổn định hơn và có thể dự đoán được.
Từ góc nhìn theo dõi dòng chảy cải cách, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế VCCI, cho biết quyết tâm cải cách của Chính phủ thời gian qua là rõ ràng, thể hiện qua việc cắt giảm thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh được triển khai quyết liệt. Tuy nhiên, khoảng cách giữa chủ trương và thực tiễn vẫn là thách thức lớn khi doanh nghiệp còn phản ánh khoảng 900 khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện. Một số rào cản mới cũng xuất hiện dưới dạng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật phức tạp, gây thêm khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Thủy sản cần tháo “chùm điểm nghẽn” để tăng tốc xuất khẩu
Đại diện cho tiếng nói doanh nghiệp thủy sản, ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam, cho biết cộng đồng doanh nghiệp đã cảm nhận rõ các tác động tích cực từ chỉ đạo của Trung ương và Chính phủ trong tháo gỡ khó khăn, cải cách thể chế. Tuy nhiên, quá trình rà soát, sửa đổi quy định cần có sự tham gia nhiều hơn của cộng đồng doanh nghiệp để bảo đảm việc cắt giảm đi vào đúng những vấn đề thực tế mà doanh nghiệp đang gặp phải.
Theo ông Nam, thủy sản Việt Nam hiện nằm trong nhóm 3 quốc gia xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới. Lợi thế của ngành không chỉ ở khai thác, nuôi trồng mà còn ở năng lực chế biến sâu, tạo sản phẩm giá trị gia tăng cao, đáp ứng yêu cầu của các thị trường phát triển. Năm 2026, ngành đặt mục tiêu xuất khẩu trên 12 tỷ USD, tăng khoảng 10-11%, nhưng để đạt được mục tiêu này, doanh nghiệp đang đối mặt với nhiều điểm nghẽn lớn.
Điểm nghẽn đầu tiên là chi phí logistics tăng cao. Trong bối cảnh đơn hàng xuất khẩu tăng, giá cước vận tải biển cũng tăng khoảng 20-30%. Có thời điểm, một container xuất khẩu sang bờ Tây Hoa Kỳ vẫn ở mức rất cao so với trước dịch Covid-19. Với đặc thù mỗi năm ngành thủy sản xuất khẩu khoảng 1 triệu container, chi phí vận tải tăng sẽ bào mòn đáng kể phần giá trị gia tăng mà doanh nghiệp tạo ra.
Điểm nghẽn thứ hai là vốn tín dụng. Khi đơn hàng tăng, doanh nghiệp cần thêm vốn lưu động để thu mua nguyên liệu từ nông dân, ngư dân và mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, việc tiếp cận phần tín dụng tăng thêm vẫn còn khó khăn, kể cả với những doanh nghiệp có uy tín và kim ngạch xuất khẩu lớn. Đây là vấn đề rất thực tế: có đơn hàng, có thị trường nhưng nếu không đủ vốn để thu mua nguyên liệu thì doanh nghiệp khó tận dụng cơ hội tăng trưởng.
Điểm nghẽn thứ ba là thủ tục, quy định liên quan đến xuất khẩu thủy sản. Để xuất khẩu một lô hàng, doanh nghiệp phải hoàn thiện nhiều loại hồ sơ, xác nhận, trong khi các thị trường nhập khẩu lớn như EU, Hoa Kỳ ngày càng đặt ra yêu cầu chặt chẽ về chống khai thác bất hợp pháp, bảo vệ nguồn lợi biển và truy xuất nguồn gốc. Thực tế có trường hợp doanh nghiệp đã thu mua hàng trăm tấn nguyên liệu, đưa vào kho nhưng khi làm hồ sơ xuất khẩu lại vướng thủ tục xác nhận nguyên liệu.
Trả lời câu hỏi về “nút thắt” cần tháo gỡ ngay để doanh nghiệp tăng tốc, ông Nguyễn Hoài Nam cho rằng ngành thủy sản đang cần được xử lý đồng bộ 4 vấn đề: tín dụng, lao động, chi phí vận tải biển và thủ tục xác nhận nguyên liệu. Nếu các điểm nghẽn này được tháo gỡ, ngành thủy sản sẽ có thêm dư địa phát triển, đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng chung của nông nghiệp và nền kinh tế.
Liên quan đến kiến nghị về vốn, bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ tín dụng, Ngân hàng Nhà nước, cho biết nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu là các lĩnh vực ưu tiên. Ngân hàng Nhà nước đã triển khai gói tín dụng ưu đãi cho nông, lâm, thủy sản; quy mô giải ngân đã nhiều lần được mở rộng. Đại diện Ngân hàng Nhà nước đề nghị VASEP cung cấp danh sách cụ thể các doanh nghiệp đủ điều kiện nhưng còn gặp khó tại từng ngân hàng để có cơ sở rà soát và chỉ đạo xử lý.
Cải cách phải đo bằng chi phí và thời gian của doanh nghiệp
Từ góc độ lập pháp, ông Phan Đức Hiếu, đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, cho rằng thể chế có vai trò đặc biệt quan trọng trong thúc đẩy phát triển doanh nghiệp. Tuy nhiên, cải cách thể chế không phải việc làm một lần là xong, mà là quá trình liên tục, phải bám sát sự vận động của kinh tế-xã hội. Ông đề xuất cần có Tổ công tác đặc biệt để xử lý trực tiếp các vướng mắc trong thực hiện điều kiện kinh doanh, giúp doanh nghiệp có một địa chỉ rõ ràng để phản ánh và được giải quyết.
Ở phiên thảo luận về kinh tế tư nhân, bà Nguyễn Minh Thảo, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế-tài chính, cho rằng doanh nghiệp không chỉ cần ưu đãi mà cần môi trường kinh doanh ổn định, minh bạch, thông thoáng, chi phí tuân thủ thấp. Các phương án cắt giảm điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính cần được hiện thực hóa nhanh, gắn với chuyển đổi số thực chất và sự đồng hành của chính quyền.
Ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, nhấn mạnh doanh nghiệp Việt Nam không thiếu khát vọng lớn lên. Điều doanh nghiệp lo ngại là rủi ro và chi phí phát sinh khi mở rộng quy mô, nhất là chi phí tuân thủ, thanh tra, kiểm tra và các quy định pháp luật. Vì vậy, mỗi quy định mới cần trả lời rõ ba câu hỏi: doanh nghiệp mất bao nhiêu thời gian, chi phí tuân thủ là bao nhiêu và quy định đó có thực sự đơn giản, phù hợp với thực tiễn hay không.
Các ý kiến tại hội thảo cùng gặp nhau ở một điểm: muốn doanh nghiệp trở thành động lực của tăng trưởng hai con số, cải cách phải được đo bằng hiệu quả thực tế trong sản xuất, đầu tư, xuất khẩu và năng lực mở rộng kinh doanh. Với ngành thủy sản, việc tháo gỡ kịp thời các vướng mắc về tín dụng, lao động, logistics và hồ sơ nguyên liệu không chỉ giúp doanh nghiệp tận dụng tốt hơn cơ hội thị trường, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của một ngành xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
(vasep.com.vn) Xuất khẩu ghẹ của Việt Nam tiếp tục tăng mạnh trong 9 tháng đầu năm 2026, đạt 87,1 triệu USD, tăng gần 58% so với cùng kỳ. Mỹ vẫn là động lực chính, đặc biệt sau khi nghề khai thác ghẹ Việt Nam được công nhận tương đương theo MMPA. Tuy nhiên, sự phụ thuộc ngày càng lớn vào thị trường này cũng đặt ra không ít thách thức cho doanh nghiệp.
(vasep.com.vn) Người tiêu dùng Italy ngày càng quan tâm đến tính bền vững, khả năng truy xuất nguồn gốc và thông tin minh bạch khi lựa chọn sản phẩm thủy sản, trong bối cảnh những lo ngại về ô nhiễm đại dương và suy giảm nguồn lợi biển gia tăng.
(vasep.com.vn) Hàn Quốc và Trung Quốc đã nối lại hoạt động tuần tra chung tại Vùng áp dụng các biện pháp tạm thời Hàn Quốc – Trung Quốc trên Hoàng Hải sau 4 năm gián đoạn, nhằm tăng cường kiểm soát hoạt động khai thác thủy sản và ngăn chặn các hành vi đánh bắt bất hợp pháp.
(vasep.com.vn) Ngư dân vùng Viễn Đông Nga đã bắt đầu mùa đánh bắt cá minh thái Alaska thu đông (mùa B) tại biển Okhotsk, tập trung khai thác phần hạn ngạch còn lại của năm 2026. Tính đến ngày 19/10, sản lượng tại vùng biển này đạt 943.300 tấn, tương đương 80,2% hạn ngạch năm, tạo cơ sở để ngành khai thác tiếp tục đẩy nhanh tiến độ trong giai đoạn cuối năm.
(vasep.com.vn) Nigeria và Ghana đang đẩy mạnh hợp tác trong quản lý nghề cá, kiểm soát tàu khai thác và giám sát hoạt động trên biển nhằm ngăn chặn khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại khu vực Vịnh Guinea.
(vasep.com.vn) Người tiêu dùng Mỹ ngày càng ưu tiên các sản phẩm thủy sản khai thác bền vững, trong đó nhiều người sẵn sàng chi trả cao hơn cho những sản phẩm có chứng nhận độc lập về môi trường.
(vasep.com.vn) Kiểm tra tình trạng tôm và môi trường ao trước mỗi cữ ăn giúp người nuôi điều chỉnh khẩu phần phù hợp, hạn chế thức ăn dư thừa, giảm tích tụ chất hữu cơ và duy trì chất lượng nước ổn định.
(vasep.com.vn) Chương trình chứng nhận thủy sản bền vững chưa mang lại lợi ích kinh tế tương xứng cho ngư dân quy mô nhỏ, dù được kỳ vọng thúc đẩy hoạt động khai thác có trách nhiệm và tạo cơ hội bán hàng với giá cao hơn.
(vasep.com.vn) Thức ăn thủy sản có trách nhiệm là yếu tố quan trọng để phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững, giảm áp lực lên nguồn lợi thủy sản tự nhiên và cải thiện trách nhiệm môi trường, xã hội trong toàn chuỗi cung ứng.
(vasep.com.vn) Chính phủ Indonesia đã chính thức kết thúc giai đoạn ứng phó khẩn cấp đối với sự cố nhiễm phóng xạ cesium-137 (Cs-137) tại khu công nghiệp Modern Cikande, tỉnh Banten. Tuy nhiên, các yêu cầu kiểm nghiệm, truy xuất nguồn gốc và chứng nhận riêng đối với các lô tôm xuất khẩu sang Mỹ vẫn tiếp tục được duy trì.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn