Phát triển kinh tế thủy sản và nuôi trồng – Ví dụ từ Nauy và Việt Nam

Thị trường thế giới 15:55 10/09/2018 1368
(vasep.com.vn) Nauy và Việt Nam có những điểm tương đồng về kích thước (chiều dài bờ biển và diện tích), đều là quốc gia giáp biển, là quốc gia phát triển khai thác và nuôi trồng thủy sản.

Hai quốc gia cũng có sự khác biệt về dân số, nền kinh tế, tổng sản phẩm quốc nội GDP, vị trí – Nauy nằm ở phía bắc và Việt Nam nằm ở phía Nam bán cầu– vì vậy khí hậu và điều kiện thời tiết cũng như nguồn lợi tự nhiên của hai nước là khác nhau.

Chỉ số phát triển con người HDI: Nauy (0,944) – đứng đầu trong danh sách, Việt Nam (0,638) xếp thứ 21.

Mức độ trong sạch (không tham nhũng): Na Uy đứng thứ 3 trên thế giới, Việt Nam xếp thứ 107. 

Vùng biển tranh chấp và quyền khai thác hải sản

Nauy đã thiết lập quyền khai thác hải sản ở tất cả các vùng tranh chấp đặc quyền kinh tế, với Nga và EU trên cơ sở tuân theo luật biển.

Hàng năm đàm phán và ký kết hiệp ước chia sẻ tổng sản lượng đánh bắt (TACs) và các vấn đề đánh bắt khác.

Quyền khai thác ở vùng tranh chấp ở phía nam của biển Trung Quốc vẫn chưa được thiết lập. Điều này dẫn đến sự tranh giành về nguồn lợi và là đó là nghề đánh bắt mở (open access).

Quản lý nghề cá

Nghề cá ở Việt Nam chủ yếu  là hoạt động đánh bắt mở, quy mô nhỏ, có tiền tô biên, nhưng không có tiền tô từ nguồn lợi. Trong khi đó, nghề cá ở Nauy bao gồm các hoạt động đánh bắt có quản lý/quy định, quy mô lớn, tiền tô từ nguồn lợi và tiền tô biên từ đánh bắt là khá nhỏ, nhưng tiền tô kinh tế trong nuôi trồng đạt được rất cao.

Khái niệm trợ cấp trong thủy sản

Khái niệm của WTO: ”…(i) đóng góp tài chính (ii) bởi các tổ chức cộng đồng hoặc bởi nhà nước (iii) mang lại một lợi ích nào đó”, Ba điều kiện này phải đạt được thì mới gọi là trợ cấp

Tại sao trợ cấp tác động tiêu cực trong thủy sản?

+ Động cơ để gia tăng các yếu tố đầu vào, làm xâm hại đến trữ lượng và làm giảm tiền tô nguồn lợi tiềm năng và lợi nhuận trong dài hạn.

+ Sự bóp méo thương mại thông qua việc tạo điều kiện thuận lợi cho một quốc gia xuất khẩu (nếu trữ lượng chưa khai thác hết)

Trợ cấp dầu và loại bỏ thuế nguồn lợi tự nhiên

Các chuyển dịch tài chính từ nhà nước đến ngành thủy sản không nhất thiết được xem là trợ cấp, không nhất thiết là tác động tiêu cực – Báo cáo FAO/WTO/OECD (Ví dụ: Đầu tư tàu nghiên cứu lưới kéo)

Sumaila et al. (2010): Tốt, xấu và mơ hồ (xấu xí)

Tác động của trợ cấp trong nghề cá đánh bắt mở

Giải thích những ảnh hưởng của trợ cấp giá cá trong nghề đánh cá mở. Điều này mở rộng đường cong doanh thu dài hạn từ TR đến TR và nỗ lực E tương ứng. Nỗ lực mở rộng có nghĩa là giảm trữ lượng cá. Do đó, cường lực khai thác gia tăng, trữ lượng giảm. (Nguồn: Duy et al., 2014)

Chuyển dịch tài chính nhà nước (GFT) sang ngành công nghiệp đánh bắt của Nauy, 1964-2012

Nauy XK khoảng 90% lượng cá đánh bắt, chủ yếu dựa trên giá thị trường thế giới. Trợ cấp chỉ có tác động rất nhỏ lên giá sản phẩm, nhưng góp phần đối với tình trạng quá tải của công nghiệp thu hoạch và chế biến.

Các chương trình trợ cấp trong khai thác thủy sản ở Việt Nam

Năm

Hình thức trợ cấp

Ngân sách (triệu  USD)

1997

Tín dụng cho các tàu xa bờ

94

1996-2000

Cơ sở hạ tầng cho nghề cá

126

2000-2005

Cơ sở hạ tầng cho nghề cá

495

2005

Bãi bỏ thuế tài nguyên

 

2008

Trợ cấp dầu

91

2006-2010

Cảng biển

150

2009-2012

Quản lý thông tin

26

2005-2012

Cảng cá, chợ cá

169

2014-2017

Tín dụng cho đóng mới tàu và cải hoán tàu.

 

Tại Việt Nam, các tàu khai thác xa bờ có lãi kể cả khi không được trợ cấp.

Trình độ học vấn cao hơn, kinh nghiệm nhiều hơn, loại ngư cụ khai thác là ba yếu tố có xu hướng ảnh hưởng đến quyết định tham gia vào chương trình trợ cấp.

Câu hỏi đặt ra bên cạnh mục tiêu nghiên cứu của dự án: Tác động dài hạn của trợ cấp đối với trữ lượng và nguồn lợi?

Trợ cấp và vấn đề chính trị

Finley (2017) đã cho rằng hầu hết tình trạng đầu tư vượt quá công suất khai thác diễn ra hàng thế kỷ sau chiến tranh thế giới thứ hai là do trợ cấp nhà nước, và các chính sách trợ cấp thường là những công cụ chính trị trong chiến tranh lạnh.

Đối với trợ cấp cho vùng biển khơi: Kết quả nghiên cứu cho thấy có thể đánh bắt ở quy mô hiện tại khi có trợ cấp của nhà nước, nếu không có trợ cấp thì 54% ngư trường khai thác khơi sẽ không có lợi nhuận với mức khai thác hiện tại  (Sala và cộng tác viên, 2018).

Ước lượng trợ cấp theo nước khai thác/ và mục tiêu chính tr

 

Sản lượng đánh bắt toàn thế giới và sản lượng nuôi trồng của sinh vật dưới nước. 1950–2015.

 

Sản lượng nuôi trồng năm 2015 (nghìn tấn), và giá trị kính tế, sự thay đổi hàng năm trung bình thời kỳ 1985–2015. 74 nước được xếp hạng theo giá trị (Nguồn: xem sách của Flaaten 2018 Chương 11)

Xếp hạng

Nước

Sản xuất

Sự thay đổi hàng năm (%)

   

Sản lượng

Giá trị

iqty

ival

1

Trung Quốc

60.166,82

77.412,90

8,87

10,42

2

Ấn Độ

5.061,02

10.612,68

7,09

10,05

3

Indonesia

15.012,30

96.70,64

12,58

11,29

4

Chile

11.42,55

85.86,29

16,52

22,86

5

Việt Nam

34.02,27

8.207,86

11,03

12,72

6

Nauy

1.356,69

6.441,34

12,70

12,44

Cấu trúc chi phí của ba ngành nuôi công nghiệp, tại trại nuôi

Hạng mục chi phí

Cá basa, Việt Nam3, 2016

Tôm thẻ chân trắng, Việt Nam3, 2014

Cá hồi Nauy, 2016

Tỷ lệ chi phí %

Tỷ lệ chi phí %

Tỷ lệ chi phí %

Con giống

10,4

11,88

9,39

Thức ăn

81,84

41,17

42,97

Nhân công1

1,08

4,91

6,73

Bảo hiểm

 

 

0,38

 

1,05

 

 

Điện

 

11,68

 

Các chi phí vận hành khác

3,474

13,065

25,722

Khấu hao

0,45

17,306

5,32

Chi phí tài chính ròng

1,16

-7

-0,12

Chi phí vận hành, tất cả

99,44

100

90,4

Cắt đầu cá, làm sạch cá

0,56

-8

9,63

Tổng chi phí

100

100

100

 

Hạng mục

Cá basa, Việt Nam3, 2016

Tôm thẻ chân trắng Việt Nam3, 2014

Cá hồi Nauy, 2016

Tổng chi phí (Tiền tệ Việt Nam: VNĐ, tiền tệ Nauy: NOK)

21.440,00

108.832,40

33,86

Tổng doanh thu (Tiền tệ Việt Nam: VNĐ, tiền tệ Nauy: NOK)

22,600,00

120.336,06

50,59

Lợi nhuận

1.160,00

11.503,66

16,73

Tỷ giá, trên 1 USD

22.368,25

21.193,08

8,4

Tổng chi phí, USD

0,96

5,14

4,03

Doanh thu, USD

1,01

5,68

6,02

Lợi nhuận biên

5,1

9,5

33,1

 

Tô kinh tế trong nuôi trồng (ERA)

Tiền tô kinh tế trong nuôi trồng (ERA) là khoản tiền bất kỳ trả cho chủ trại nuôi, trên đất liền hoặc trên biển, và vượt mức chi phí cần thiết để nông trại đó có thể hoạt động. Đối với mục tiêu chính sách và phân tích, cần thiết phân biệt giữa các loại ERA, bao gồm tiền tô tập quyền do đặc quyền sử dụng các giấy phép và giới hạn đầu ra.

Cá hồi Atlantic (Salmo salar) tại Nauy và tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) tại Việt Nam là hai trường hợp nuôi trồng thành công.

Kết quả phân tích cho thấy nghề nuôi cá hồi ở Nauy có lợi nhuận và tỷ lệ ERA rất cao, kết quả này thấp hơn đối với nghề nuôi tôm thẻ chân trắng ở Việt Nam.

Tô kinh tế trong nuôi trồng (ERA) có thể tính được dựa trên dữ liệu doanh thu chi phí. Các khái niệm và Nauy 2016

Khái niệm

Giải thích

ERA  cho cá hồi ở Nauy, 2016 Triệu NOK (tr. USD)

Doanh thu

Doanh thu bán từ trại nuôi

50.072,31

(5.961,0)

-          Tổng chi phí vận hành

Bao gồm chi phí khấu hao trại, giấy phép

32.035,0

= Lợi nhuận vận hành (EBIT)

Thu nhập trước lãi và thuế

18.037,3

      +    Tổng doanh thu tài chính

Thu nhập tài chính và tiền lời từ chênh lệch tỷ giá

530,7

-          Tổng chi phí tài chính

Chi phí tài chính và lỗ do tỷ giá tiền tệ

495,4

= Lợi nhuận từ các hoạt động thông thường trước thuế (EBT)

 

18.072,6

       + Khấu hao vốn vô hình

Vốn vô hình có thể là giấy phép

-12,52

       + Chi phí tài chính của vốn vô hình

Chi phí tài chính (tiền lãi, phí ) của việc mua giấy phép

226,53

-          Tiền lãi cho tài sản

Là số tiền phải trả cho nợ dài hạn, trái phiếu chính phủ (chi phí cơ hội).

917,63

= Tiền tô kinh tế trong nuôi (ERA) chưa điều chỉnh

Phần còn lại cho chủ trại nuôi tính trên toàn ngành, không trừ chi phí quản lý và môi trường

17.369,0

(2.067,7)

Tiền tô kinh tế trên một đơn vị kg

ERA tổng chia cho sản lượng bán tại trại nuôi.

18,22

(2,17)

Hệ số biên hoạt động

EBIT theo tỷ lệ của doanh thu

36,0

Hệ số lợi nhuận biên4

EBT theo tỷ lệ của doanh thu

36,1

Hệ số tiền tô kinh tế biên

ERA theo tỷ lệ của doanh thu

34,7

ERA có thể tính được từ dữ liệu và chi phí. Khái niệm

Khái niệm

Giải thích

Doanh thu

Doanh thu bán từ trại nuôi

-          Tổng chi phí hoạt động

Bao gồm chi phí khấu hao trại, giấy phép

= Lợi nhuận hoạt động (EBIT)

Thu nhập trước lãi và thuế

      +    Tổng doanh thu tài chính

Thu nhập tài chính và tiền lời từ chênh lệch tỷ giá

-          Tổng chi phí tài chính

Chi phí tài chính và lỗ do tỷ giá tiền tệ

= Lợi nhuận từ hoạt động thông thường trước thuế  (EBT)

 

       + Khấu hao vốn vô hình

Vốn vô hình có thể là giấy phép

       + Chi phí tài chính vốn vô hình

Chi phí tài chính (tiền lãi, phí ) của việc mua giấy phép

-          Tiền lãi trên tổng tài sản

Là số tiền phải trả cho nợ dài hạn, trái phiếu chính phủ (chi phí cơ hội).

= Tiền tô kinh tế trong nuôi (ERA) chưa điều chỉnh

Phần còn lại cho chủ trại nuôi tính trên toàn ngành, không trừ chi phí quản lý và môi trường

17.369,0

(2.067,7)

Tiền tô kinh tế trên một đơn vị kg

ERA tổng chia cho sản lượng bán tại trại nuôi.

18,22

(2,17)

Hệ số biên hoạt động

EBIT theo tỷ lệ của doanh thu

36,0

Hệ số lợi nhuận biên4

EBT theo tỷ lệ của doanh thu

36,1

Hệ số tiền tô kinh tế biên

ERA theo tỷ lệ của doanh thu

34,7

       

 

 

 

Nauy-cá hồi,

2016

Việt Nam- tôm thẻ chân trắng, 2014

= Tiền tô kinh tế từ nuôi trồng (ERA) chưa điều chỉnh

Phần còn lại cho chủ trại nuôi tính trên toàn ngành, không trừ chi phí quản lý và môi trường

mill. NOK       17.369,0

(mill. USD)     (2.067,7)

mill. VND     1.492.106,3

(mill. USD)              (69,8)

Lợi nhuận biên4

EBT theo tỷ lệ của doanh thu

36,1

9,6

Tiền tô kinh tế biên

EBT theo tỷ lệ của doanh thu

34,7

7,2

Bài học kinh nghiệm (khai thác và nuôi trồng)

Trên cơ sở luật biển – thiết lập quyền và trách nhiệm của quốc gia trên vùng biển tranh chấp với sự đồng thuận quốc tế, và tránh tranh giành làm giảm tiền tô nội địa.

Loại bỏ các hỗ trợ làm tăng chuyển dịch tài chính quốc gia (GFT) (trợ cấp xấu xí)

GFT là để, ví dụ như đầu tư cho cơ sở hạ tầng, cho an toàn an ninh xã hội, cũng như kiểm soát, giám sát là trợ cấp tốt. 

(Bài trình bày của GS. Ola Flaaten tại Hội thảo "Tương lai nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản" trong khuôn khổ Hội chợ Vietfish 2018) 

TIN MỚI CẬP NHẬT

Công ty CP Công nghệ 111 Việt Nam trở thành HV liên kết của VASEP từ tháng 3/2026

 |  15:55 13/03/2026

Công ty CP Công nghệ 111 Việt Nam đã chính thức gia nhập Hội viên VASEP từ tháng 3 năm 2026. Xin chúc mừng và chúc Quý doanh nghiệp phát triển bền vững, đồng hành cùng Hiệp hội trong các hoạt động liên kết và nâng tầm thương hiệu thủy sản Việt Nam.

Xung đột Trung Đông làm gián đoạn vận chuyển hải sản Trung Quốc

 |  08:59 13/03/2026

(vasep.com.vn) Việc nhiều quốc gia Trung Đông đóng cửa không phận đã gây phản ứng dây chuyền đối với vận tải hàng không quốc tế, trong đó hải sản tươi là nhóm chịu tác động rõ rệt nhất. Các chuyến bay chở hàng từ châu Âu sang châu Á bị hủy hoặc chuyển hướng, khiến hàng hóa chuỗi lạnh từng trung chuyển qua Doha, Dubai hay Abu Dhabi bị ùn ứ.

Cá rô phi mất vị trí số 1 trong tổng nhập khẩu cá thịt trắng đông lạnh vào Mỹ

 |  08:58 13/03/2026

(vasep.com.vn) Dữ liệu thương mại cả năm 2025 cho thấy xuất khẩu philê cá tra, basa đông lạnh của Việt Nam sang Mỹ đạt khoảng 247,2 triệu pound, vượt mức khoảng 195,3 triệu pound philê cá rô phi đông lạnh của Trung Quốc. Đây là năm thứ hai liên tiếp cá basa dẫn đầu và tiếp tục nới rộng khoảng cách. Trong bối cảnh cá rô phi từng giữ vị trí thống lĩnh lâu dài, diễn biến này cho thấy trọng tâm thị trường đang dịch chuyển.

Nguồn cung phi lê cá Nga vẫn ổn định tại châu Âu dù thuế tăng

 |  08:56 13/03/2026

(vasep.com.vn) Sau khi Liên minh châu Âu (EU) áp thuế và thực hiện một số biện pháp trừng phạt đối với thủy sản Nga, thị trường từng dự báo xuất khẩu philê cá thịt trắng của Nga sang EU sẽ giảm mạnh. Tuy nhiên, dữ liệu thương mại năm 2025 cho thấy nguồn cung không suy giảm đáng kể và vẫn giữ vị trí quan trọng trong chuỗi chế biến của khu vực.

BIDV-SuMi TRUST (BSL): Trợ lực tài chính toàn diện, đồng hành cùng doanh nghiệp thủy sản Việt vươn tầm quốc tế

 |  08:50 13/03/2026

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, ngành Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam liên tục ghi nhận những cột mốc ấn tượng. Tuy nhiên, để giữ vững vị thế tại các thị trường trọng điểm và đáp ứng xu hướng tiêu dùng xanh, các doanh nghiệp bắt buộc phải đầu tư mạnh mẽ vào tự động hóa, công nghệ chế biến sâu và chuỗi cung ứng lạnh. Để giải quyết bài toán vốn đầu tư trung và dài hạn mà không làm ảnh hưởng đến hạn mức tín dụng ngắn hạn thu mua nguyên liệu, Công ty Cho thuê Tài chính TNHH BIDV-SuMi TRUST (BSL) sẵn sàng mang đến những giải pháp tài chính chuyên biệt và tối ưu nhất.

Indonesia được ca ngợi là hình mẫu về nghề cá bền vững tại diễn đàn FAO

 |  09:03 12/03/2026

(vassep.com.vn) Tại một diễn đàn vừa qua của Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) ở Reykjavik, Iceland, Indonesia đã được công nhận là hình mẫu hàng đầu về quản lý nghề cá bền vững, đặc biệt là nghề cá quy mô nhỏ, hôm thứ Tư, theo một tổ chức chứng nhận quốc tế cho biết.

Xung đột tại Trung Đông: Thách thức logistics và tác động tới thị trường tôm toàn cầu

 |  09:02 12/03/2026

(vasep.com.vn) Trung Đông là một trong những khu vực thị trường quan trọng đối với thủy sản Việt Nam, trong đó tôm là một trong các mặt hàng xuất khẩu đáng chú ý. Tuy nhiên, những diễn biến căng thẳng quân sự tại khu vực này từ đầu năm 2026 đang làm dấy lên nhiều lo ngại về nguy cơ gián đoạn thương mại, logistics và chuỗi cung ứng thủy sản toàn cầu. Trong bối cảnh đó, xuất khẩu tôm Việt Nam sang Trung Đông cũng đang chịu những tác động nhất định, đồng thời phản ánh rõ những biến động của thị trường tôm thế giới.

Nhập khẩu tôm EU đạt kỷ lục mới năm 2025, nhu cầu phục hồi rõ rệt

 |  08:57 12/03/2026

(vasep.com.vn) Liên minh châu Âu (EU) ghi nhận mức nhập khẩu tôm cao kỷ lục trong năm 2025, cho thấy nhu cầu thị trường đang phục hồi mạnh mẽ sau giai đoạn biến động trước đó.

Mỹ tăng cường kiểm soát thủy sản nhập khẩu: Doanh nghiệp cần thận trọng với rủi ro kháng sinh, HACCP và truy xuất nguồn gốc

 |  08:53 12/03/2026

(vasep.com.vn) Từ đầu tháng 3/2026 đến nay, các cơ quan quản lý của Hoa Kỳ tiếp tục tăng cường kiểm soát đối với thủy sản nhập khẩu, đặc biệt liên quan đến an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và tuân thủ các quy định về môi trường. Những động thái này cho thấy xu hướng siết chặt các rào cản kỹ thuật đối với thủy sản nhập khẩu vào thị trường Mỹ, đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam.

Brazil mở rộng sản xuất cá rô phi, Mỹ vẫn là thị trường chủ lực

 |  08:43 11/03/2026

(vasep.com.vn) Sản lượng cá nuôi của Brazil đã vượt mốc 1 triệu tấn trong năm 2025, theo Niên giám Nuôi trồng Thủy sản Brazil 2026 do Hiệp hội Peixe BR công bố. Tổng sản lượng đạt 1.011.540 tấn, tăng 4,41% so với năm 2024, qua đó củng cố vị thế của nuôi cá là một trong những ngành tăng trưởng của nông nghiệp Brazil.

VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM

Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội

Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO

Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu

Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông

Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn

Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh

Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn

VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội

Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn

© Copyright 2020 - Mọi hình thức sao chép phải được sự chấp thuận bằng văn bản của VASEP

DANH MỤC