Điều 7
Quy trình đánh giá sự phù hợp do các cơ quan nhà nước địa phương thực hiện
Liên quan đến các cơ quan nhà nước ở địa phương trong lãnh thổ của mình:
7.1. Các Thành viên phải áp dụng các biện pháp thích hợp trong khả năng của mình để đảm bảo rằng các cơ quan này tuân thủ các điều khoản của Điều 5 và 6, ngoại trừ trách nhiệm thông báo như đã nói ở các điểm 5.6.2 và 5.7.1 của Điều 5.
7.2. Các Thành viên phải đảm bảo rằng các quy trình đánh giá sự phù hợp của các cơ quan nhà nước ở địa phương trực thuộc trực tiếp các cơ quan nhà nước trung ương của các thành viên phải được công bố phù hợp với các điểm 5.6.2 và 5.7.1 của Điều 5, tuy nhiên không cần phải công bố các quy trình đánh giá sự phù hợp có những nội dung cơ bản giống như các quy trình đánh giá sự phù hợp đã thông báo trước kia của các cơ quan nhà nước trung ương của các Thành viên có liên quan.
7.3. Các Thành viên có thể liên lạc với các Thành viên khác kể cả việc thông báo, cung cấp thông tin, góp ý kiến và trao đổi thảo luận như đã nói ở các khoản 5.6 và 5.7 của Điều 5, thông qua cơ quan nhà nước ở trung ương.
7.4. Các Thành viên không được áp dụng các biện pháp yêu cầu hoặc khuyến khích các cơ quan nhà nước ở địa phương trong phạm vi lãnh thổ của họ hành động không phù hợp với các điều khoản của Điều 5 và Điều 6.
7.5. Theo Hiệp định này, các Thành viên chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với việc chấp hành tất cả các điều khoản của Điều 5 và 6. Các Thành viên phải đề ra và thi hành các biện pháp và cơ chế tích cực nhằm hỗ trợ các cơ quan không phải là các cơ quan nhà nước trung ương trong việc tuân thủ của các điều khoản của Điều 5 và 6.
Điều 8
Các quy trình đánh giá sự phù hợp do các tổ chức phi chính phủ thực hiện
8.1. Các Thành viên phải áp dụng các biện pháp thích hợp trong phạm vi khả năng của mình để đảm bảo rằng các tổ chức phi phính phủ trong phạm vi lãnh thổ của mình thực hiện việc đánh giá phù hợp đúng với các điều khoản của Điều 5 và 6, ngoại trừ trách nhiệm thông báo về các quy trình đánh giá sự phù hợp dự kiến ban hành. Ngoài ra, các Thành viên không được áp dụng các biện pháp gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp để yêu cầu hoặc khuyến khích các tổ chức trên hành động không đúng với các điều khoản của Điều 5 và 6.
Điều 9
Các hệ thống quốc tế và khu vực
9.1. Khi cần có sự đảm bảo chắc chắn về sự phù hợp với một văn bản pháp quy kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn và khi có khả năng, các Thành viên phải xây dựng và chấp nhận các hệ thống quốc tế về đánh giá sự phù hợp và trở thành thành viên hoặc tham gia vào các hệ thống đó.
9.2. Các Thành viên phải áp dụng các biện pháp trong phạm vi khă năng của mình để đảm bảo rằng các hệ thống quốc tế và khu vực về đánh giá sự phù hợp mà các cơ quan có liên quan nằm trong lãnh thổ của mình là thành viên hoặc tham gia phải tuân thủ các điều khoản của Điều 5 và 6. Ngoài ra, các Thành viên không được áp dụng các biện pháp gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp để yêu cầu hoặc khuyến khích các hệ thống này hành động không phù hợp với bất cứ điều khoản nào của Điều 5 và 6.
9.3. Các Thành viên phải đảm bảo rằng các cơ quan nhà nước trung ương của mình chỉ áp dụng các hệ thống đánh giá sự phù hợp quốc tế hoặc khu vực nếu các hệ thống này tuân thủ các điều khoản của Điều 5 và 6 tương ứng.
Thông tin và trợ giúp
Điều 10
Các thông tin về các văn bản pháp quy kỹ thuật, tiêu chuẩn và quy trình đánh giá sự phù hợp
10.1. Mỗi Thành viên phải có một đầu mối liên lạc có khả năng trả lời tất cả yêu cầu hợp lý từ các Thành viên khác và các bên quan tâm của các Thành viên khác cũng như cung cấp các tài liệu liên quan đến:
10.1.1. Tất cả các văn bản pháp quy kỹ thuật được thông qua hoặc dự kiến thông qua trong phạm vi lãnh thổ của mình bởi các cơ quan nhà nước trung ương hoặc địa phương, bởi các tổ chức phi chính phủ có thẩm quyền thi hành văn bản pháp quy kỹ thuật, hoặc bởi các tổ chức tiêu chuẩn hoá khu vực mà các cơ quan/tổ chức đó là thành viên hoặc tham gia;
10.1.2. Tất cả tiêu chuẩn được thông qua hay dự kiến thông qua trong phạm vi lãnh thổ của mình bởi cơ quan nhà nước trung ương hoặc địa phương, hoặc tổ chức tiêu chuẩn hoá khu vực mà các cơ quan đó là thành viên hoặc tham gia.
10.1.3. Tất cả các quy trình đánh giá sự phù hợp hoặc quy trình đánh giá sự phù hợp dự kiến thông qua được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ của mình bởi cơ quan nhà nước trung ương hoặc địa phương, hoặc bởi các tổ chức phi chính phủ có thẩm quyền thi hành văn bản pháp quy kỹ thuật hoặc bởi các tổ chức khu vực mà các cơ quan/tổ chức đó là thành viên hoặc tham gia.
10.1.4. Tư cách thành viên và sự tham gia của một Thành viên hoặc của các cơ quan nhà nước trung ương hoặc địa phương trong phạm vi lãnh thổ của Thành viên đó trong các tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế hoặc khu vực và các hệ thống đánh giá sự phù hợp cũng như vào các Thỏa thuận song phương hoặc đa phương trong phạm vi áp dụng của Hiệp định này; Thành viên cũng phải cung cấp thông tin cần thiết về các điều khoản của các hệ thống và thoả thuận đó.
10.1.5. Địa điểm phát hành thông báo theo Hiệp định này và những nơi có thể tìm đọc thông tin này;
10.1.6. Địa chỉ của các đầu mối liên lạc nói ở khoản 10.3 dưới đây.
10.2. Tuy nhiên, nếu vì các lý do pháp lý hoặc hành chính mà một Thành viên có thể thành lập nhiều đầu mối liên lạc, thì Thành viên đó phải cung cấp cho các Thành viên khác các thông tin đầy đủ và cụ thể về phạm vi trách nhiệm của từng đầu mối liên lạc đó. Ngoài ra, Thành viên đó phải đảm bảo rằng bất cứ yêu cầu thông tin nào gửi đến không đúng đầu mối liên lạc sẽ được chuyển kịp thời đến đầu mối liên lạc cần thiết.
10.3. Mỗi Thành viên phải áp dụng những biện pháp thích hợp trong phạm vi khả năng của mình để đảm bảo rằng việc tồn tại một hoặc nhiều đầu mối liên lạc đều có khả năng trả lời tất cả các yêu cầu thông tin hợp lý từ các Thành viên khác và các bên quan tâm của các Thành viên khác cũng như cung cấp những tài liệu hoặc thông tin có liên quan đến những nơi cần nhận chúng, bao gồm:
10.3.1. Tất cả các tiêu chuẩn được thông qua hoặc được dự kiến thông qua trong phạm vi lãnh thổ bởi các tổ chức tiêu chuẩn hoá phi chính phủ, hoặc bởi các tổ chức tiêu chuẩn hoá khu vực mà các tổ chức đó là thành viên hoặc tham gia;
10.3.2. Tất cả các quy trình đánh giá sự phù hợp hoặc quy trình đánh giá sự phù hợp dự kiến thông qua được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ của mình bởi các tổ chức phi chính phủ hoặc tổ chức khu vực mà các tổ chức phi chính phủ đó là thành viên hoặc tham gia;
10.3.3. Tư cách thành viên hoặc sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ có liên quan trong phạm vi lãnh thổ của mình vào các tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế và khu vực và các hệ thống đánh giá sự phù hợp, cũng như vào các hiệp định song phương và đa phương trong phạm vi áp dụng của Hiệp định này; các tổ chức này cũng phải cung cấp các thông tin thích hợp về các điều khoản của các hệ thống và hiệp định đó.
10.4. Các Thành viên phải áp dụng các biện pháp thích hợp trong khả năng của mình để đảm bảo rằng khi các Thành viên khác hoặc các bên có quan tâm của các Thành viên khác đề nghị cung cấp tài liệu phù hợp với các điều khoản của Hiệp định này, chúng sẽ được cung cấp với giá cả hợp lý (nếu có) bằng với giá cả đối với người bản địa* của Thành viên đó hoặc của bất cứ Thành viên nào khác.
* người bản địa được hiểu ở đây, trong trường hợp là Thành viên WTO với lãnh thổ hải quan độc lập, là những người (thể nhân hoặc pháp nhân) cư trú hoặc có cơ sở thương mại hoặc công nghiệp thực sự và đang tồn tại ở trong lãnh thổ hải quan đó.
10.5 . Nếu có yêu cầu từ phía các Thành viên khác, các Thành viên là nước phát triển phải cung cấp các bản dịch bằng tiếng Anh, Pháp hoặc Tây ban nha của các tài liệu có liên quan dưới dạng thông báo riêng hoặc nếu các tài liệu này nhiều trang thì có thể là bản tóm tắt nội dung của chúng.
10.6. Ban Thư ký khi nhận được các thông báo phù hợp với các điều khoản của Hiệp định này, phải chuyển các bản sao thông báo đến tất cả các Thành viên và các tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế và tổ chức đánh giá sự phù hợp có liên quan, và lưu ý các Thành viên là nước đang phát triển về bất cứ các thông báo nào liên quan tới các sản phẩm mà họ đặc biệt quan tâm.
10.7. Khi một Thành viên đạt được thoả thuận với một hoặc nhiều nước khác về các vấn đề liên quan tới các văn bản pháp quy kỹ thuật, tiêu chuẩn hoặc quy trình đánh giá sự phù
hợp có ảnh hưởng nhiều tới thương mại, thì ít nhất một Thành viên tham gia thoả thuận đó phải thông báo cho các Thành viên khác thông qua Ban Thư ký về các sản phẩm được đề cập trong thoả thuận này và kèm theo bản giới thiệu ngắn gọn về thoả thuận này. Khuyến khích việc tham gia của các Thành viên có liên quan, khi có yêu cầu, vào việc trao đổi, thảo luận với các Thành viên khác để ký kết các thoả thuận tương tự hoặc để dàn xếp sự tham gia của họ vào các thoả thuận đó.
10.8. Không có điều khoản nào của Hiệp định này được hiểu là yêu cầu:
10.8.1. Việc xuất bản các văn bản phải bằng ngôn ngữ khác với ngôn ngữ của nước Thành viên;
10.8.2. Cung cấp các chi tiết hoặc bản sao của các dự thảo tài liệu phải bằng ngôn ngữ khác với ngôn ngữ của nước Thành viên, ngoại trừ những quy định nêu trong khoản 10.5 ở trên; hoặc
10.8.3. Các Thành viên phải cung cấp bất cứ thông tin gì mà sự tiết lộ chúng được coi là đi ngược lại với lợi ích an ninh thiết yếu của mình.
10.9. Các thông báo gửi đến Ban Thư ký phải bằng tiếng Anh, Pháp hoặc Tây ban nha.
10.10. Các Thành viên phải chỉ định một cơ quan nhà nước trung ương có thẩm quyền chịu trách nhiệm về việc thi hành ở cấp quốc gia các điều khoản liên quan đến các thủ tục thông báo được quy định trong Hiệp định này ngoại trừ các quy định nêu trong Phụ lục 3.
10.11 Tuy nhiên, nếu vì các lý do pháp lý hoặc hành chính, mà trách nhiệm thông báo được phân bổ giữa hai hoặc nhiều cơ quan chính quyền trung ương, các Thành viên có liên quan phải cung cấp cho các Thành viên khác các thông tin đầy đủ và rõ ràng về phạm vi trách nhiệm của từng cơ quan này.
Điều 11
Trợ giúp kỹ thuật cho các Thành viên khác
11.1. Khi có yêu cầu, các Thành viên phải tư vấn cho các Thành viên khác, đặc biệt là các Thành viên là nước đang phát triển về việc soạn thảo các văn bản pháp quy kỹ thuật.
11.2. Khi có yêu cầu, các Thành viên phải tư vấn cho các Thành viên khác, đặc biệt là các Thành viên là nước đang phát triển và phải dành cho họ sự trợ giúp kỹ thuật dựa trên những nội dung và điều kiện đã thoả thuận với nhau về việc thành lập các cơ quan tiêu chuẩn hoá quốc gia và việc tham gia vào các cơ quan tiêu chuẩn hoá quốc tế, và khuyến khích các cơ quan tiêu chuẩn hoá quốc gia của mình thực hiện điều này.
11.3. Khi có yêu cầu, các Thành viên phải áp dụng các biện pháp hợp lý theo khả năng nhằm tạo điều kiện cho các cơ quan quản lý trên lãnh thổ của mình thông báo cho các Thành viên khác, đặc biệt là các Thành viên là nước đang phát triển, và phải dành cho họ sự trợ giúp kỹ thuật theo các nội dung và điều kiện đã thoả thuận với nhau liên quan đến:
11.3.1. Việc thành lập các cơ quan quản lý hoặc các tổ chức đánh giá sự phù hợp với các văn bản pháp quy kỹ thuật;
11.3.2. Các phương pháp theo đó các văn bản pháp quy kỹ thuật của họ có thể được đáp ứng tốt nhất.
11.4. Khi có yêu cầu, các Thành viên phải áp dụng các biện pháp thích hợp trong khả năng của mình để tổ chức việc tư vấn cho các Thành viên khác, đặc biệt cho các Thành viên là nước đang phát triển, và dành cho họ sự trợ giúp kỹ thuật theo các nội dung và điều kiện đã thoả thuận với nhau về việc thành lập các tổ chức đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn được thông qua trong phạm vi lãnh thổ của Thành viên có yêu cầu.
11.5. Nếu có yêu cầu, các Thành viên phải tư vấn cho các Thành viên khác, đặc biệt cho các Thành viên là nước đang phát triển, và dành cho họ sự trợ giúp kỹ thuật theo các nội dung và điều kiện đã thoả thuận với nhau liên quan đến các bước mà các nhà sản xuất cần tiến hành nếu họ muốn tiếp cận với hệ thống đánh giá sự phù hợp được điều hành bởi các cơ quan nhà nước hoặc tổ chức phi chính phủ trong phạm vi lãnh thổ của Thành viên nhận được yêu cầu đó.
11.6. Các Thành viên là thành viên hoặc tham gia vào các hệ thống đánh giá sự phù hợp quốc tế hoặc khu vực, khi có yêu cầu phải tư vấn cho các Thành viên khác, đặc biệt cho các Thành viên là nước đang phát triển, và dành cho họ sự trợ giúp kỹ thuật theo các nội dung và điều kiện đã thoả thuận với nhau về việc thành lập thể chế và khuôn khổ pháp lý nhằm tạo điều kiện cho họ hoàn thành các nghĩa vụ thành viên hoặc tham gia vào các hệ thống đó.
11.7. Khi có yêu cầu, các Thành viên phải khuyến khích các cơ quan trong phạm vi lãnh thổ của mình là thành viên hoặc tham gia vào hệ thống quốc tế hoặc khu vực về đánh giá sự phù hợp, tư vấn cho các Thành viên khác, đặc biệt cho các Thành viên là nước đang phát triển, và xem xét các yêu cầu của họ về trợ giúp kỹ thuật liên quan đến việc thành lập các tổ chức có thể tạo điều kiện cho các cơ quan có liên quan trong phạm vi lãnh thổ của mình hoàn thành các nghĩa vụ thành viên hoặc tham gia.
11.8. Khi cung cấp tư vấn và sự trợ giúp kỹ thuật cho các Thành viên về các nội dung nêu ở các khoản 11.1 đến 11.7, các Thành viên phải ưu tiên cho các nhu cầu của các Thành viên là các nước kém phát triển nhất.
(vasep.com.vn) Từ ngày 1/7, bang Hawaii (Mỹ) chính thức áp dụng quy định mới yêu cầu các nhà bán lẻ ghi rõ quốc gia xuất xứ đối với các sản phẩm cá ngừ ahi chế biến dạng thô (raw processed ahi tuna) khi bày bán.
(vasep.com.vn) Công ty công nghệ sinh học nuôi trồng thủy sản Benchmark Genetics vừa công bố đã phối hợp với sáu viện nghiên cứu hàng đầu châu Âu phát triển thành công bộ chỉ thị di truyền mật độ cao (SNP array) dành cho hai loài nghêu có giá trị kinh tế là nghêu Manila (Ruditapes philippinarum) và nghêu bản địa châu Âu (Ruditapes decussatus). Thành tựu này được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng quan trọng cho phát triển bền vững ngành nuôi nhuyễn thể tại châu Âu.
(vasep.com.vn) Liên minh châu Âu (EU) đã quyết định tiếp tục đưa Ấn Độ vào danh sách các quốc gia được phép xuất khẩu sản phẩm nuôi trồng thủy sản, trứng, mật ong và vỏ bọc có nguồn gốc động vật sang thị trường 27 nước thành viên. Quyết định này giúp hàng hóa của Ấn Độ duy trì quyền tiếp cận thị trường EU sau tháng 9/2026, khi quy định nhập khẩu mới chính thức có hiệu lực.
(vasep.com.vn) Thị trường surimi toàn cầu được dự báo sẽ duy trì đà tăng trưởng mạnh với tốc độ tăng trưởng kép (CAGR) 9,2%/năm trong giai đoạn 2026 – 2033, nhờ nhu cầu tiêu thụ thủy sản chế biến ngày càng tăng, xu hướng ăn uống lành mạnh và sự phát triển của các sản phẩm tiện lợi.
(vasep.com.vn) Trong năm 2025, kim ngạch xuất khẩu cá rô phi Việt Nam sang các thị trường đạt gần 100 triệu USD, tăng trưởng mạnh so với năm 2024 cùng sản lượng nuôi khoảng 420.000 tấn trong năm 2025 đã đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của ngành cá rô phi Việt Nam. Nguồn nguyên liệu ổn định, quy mô sản xuất ngày càng mở rộng cùng năng lực chế biến được cải thiện đang giúp cá rô phi Việt Nam từng bước khẳng định vị thế và nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.
(vasep.com.vn) Theo khảo sát mới do Talker Research thực hiện cho Viện Tiếp thị Thủy sản Alaska trên 2.000 người trưởng thành tại Mỹ, hơn một nửa người tiêu dùng cho biết họ thường chọn những bữa ăn cao cấp, hấp dẫn để “tự thưởng” sau một tuần căng thẳng. Có tới 58% người được hỏi xem đây là cách giúp cải thiện tâm trạng sau những ngày làm việc không thuận lợi.
(vasep.com.vn) Thị trường cá thịt trắng châu Âu tiếp tục ghi nhận diễn biến trái chiều khi giá cá haddock (cá êfin) tại Iceland liên tục lập mức cao kỷ lục, trong khi giá cá tuyết Đại Tây Dương (cod) điều chỉnh giảm sau giai đoạn tăng mạnh đầu năm. Tuy nhiên, mặt bằng giá cá tuyết vẫn cao hơn khoảng 30–40% so với cùng kỳ năm 2025 do nguồn cung toàn cầu còn hạn chế.
(vasep.com.vn) Sự gia tăng nhanh chóng của tầng lớp trung lưu tại Trung Quốc và Đông Nam Á đang mở ra những cơ hội mới cho các quốc gia xuất khẩu thủy sản. Dữ liệu từ Hội đồng Hải sản Na Uy (NSC), Seafish (Anh) và nhiều tổ chức thương mại cho thấy nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng như cá hồi tại châu Á đã tăng mạnh trong những năm gần đây, khi các nền kinh tế phục hồi sau đại dịch COVID-19.
(vasep.com.vn) Thượng nghị sĩ Mỹ Dan Sullivan vừa trình Đạo luật Giảm đánh bắt ngoài ý muốn phiên bản sửa đổi, bổ sung nhiều quy định chặt chẽ hơn nhằm hạn chế tác động của nghề lưới kéo đến đáy biển, tăng tính minh bạch trong giám sát và giảm lượng thủy sản bị đánh bắt ngoài ý muốn.
(vasep.com.vn) Ngành tôm Ecuador vừa ký kết thỏa thuận hợp tác với Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế tại Ecuador nhằm thúc đẩy bảo tồn, phục hồi rừng ngập mặn và phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững dọc bờ biển nước này. Thỏa thuận được công bố ngày 24/6 tại Guayaquil, với sự tham gia của Phòng Thương mại Nuôi trồng Thủy sản Ecuador và Đối tác Tôm bền vững, nằm trong khuôn khổ sáng kiến “Rừng ngập mặn vì khí hậu”.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn