Khai thác hợp lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên biển và hải đảo
Chiến lược đặt ra mục tiêu tổng quát đến năm 2030 tài nguyên biển và hải đảo được khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả, công bằng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng an ninh, đối ngoại và hợp tác quốc tế; ô nhiễm môi trường biển được ngăn ngừa, kiểm soát, giảm thiểu đáng kể; đa dạng sinh học biển, ven biển và hải đảo được bảo vệ, duy trì và phục hồi; các giá trị di sản thiên nhiên, di sản văn hóa biển được bảo tồn và phát huy; tác động của thiên tai được hạn chế thấp nhất có thể, chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển.
Mục tiêu cụ thể đến năm 2030 tài nguyên biển và hải đảo được khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả để phát triển nhanh và bền vững các ngành kinh tế biển và khu vực ven biển, nhất là các lĩnh vực kinh tế biển chủ lực theo thứ tự ưu tiên: (1) Du lịch và dịch vụ biển; (2) Kinh tế hàng hải; (3) Khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển khác; (4) Nuôi trồng và khai thác hải sản; (5) Công nghiệp ven biển; (6) Năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới; nâng cao đời sống và sinh kế cộng đồng.
Ô nhiễm môi trường biển được kiểm soát, ngăn ngừa và giảm thiểu; các nguồn gây ô nhiễm từ đất liền và trên biển, các vấn đề về ô nhiễm xuyên biên giới, sự cố môi trường biển, ô nhiễm rác thải nhựa đại dương được quan trắc, kiểm soát và quản lý hiệu quả. Đến năm 2030, ở các đô thị ven biển, 100% chất thải nguy hại, chất thải rắn sinh hoạt được thu gom và xử lý đạt quy chuẩn môi trường; 100% khu kinh tế, khu công nghiệp và khu đô thị ven biển được quy hoạch, xây dựng theo hướng bền vững, sinh thái, thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, có hệ thống xử lý nước thải tập trung, đáp ứng các quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy định về môi trường và sức tải môi trường biển, khả năng phục hồi, chống chịu của hệ sinh thái biển, đảo.
Quản lý và bảo vệ tốt các hệ sinh thái biển, ven biển và hải đảo, tăng diện tích các khu bảo tồn biển, khu vực biển, ven biển được bảo tồn đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia, bao gồm các khu bảo tồn biển và ven biển; khu vực tập trung sinh sản, khu vực thuỷ sản còn non tập trung sinh sống, nơi cư trú của các loài thuỷ sản, đường di cư của các loài thuỷ sản, các khu dự trữ sinh quyển, khu RAMSAR…; phục hồi diện tích rừng ngập mặn ven biển tối thiểu bằng mức năm 2000.
Ứng phó hiệu quả với thiên tai, biến đổi khí hậu và nước biển dâng dựa vào sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo cùng với năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai, biến đổi khí hậu và tác động của nước biển dâng được tăng cường.
Điều tra cơ bản và nghiên cứu khoa học biển và hải đảo cơ bản đáp ứng được yêu cầu của hoạt động khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học biển và hải đảo, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa biển, phòng, chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu và nước biển dâng góp phần phát triển bền vững kinh tế biển.
Đánh giá được tiềm năng, giá trị các tài nguyên biển quan trọng. Tối thiểu 50% diện tích vùng biển Việt Nam được điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển ở tỉ lệ bản đồ 1: 500.000 và điều tra tỉ lệ lớn ở một số vùng trọng điểm. Thiết lập hệ thống thông tin tổng hợp về tài nguyên, môi trường biển, đảo, bảo đảm tính tích hợp, chia sẻ và cập nhật.
Tầm nhìn đến năm 2050 tài nguyên biển và hải đảo được khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả nhằm đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh trên nền tảng tăng trưởng xanh, đa dạng sinh học biển được bảo tồn, môi trường biển và các hải đảo trong lành, xã hội hài hoà với thiên nhiên.
Các định hướng, nhiệm vụ của Chiến lược đến năm 2030
Một trong những định hướng, nhiệm vụ Chiến lược đến năm 2030 là khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên biển và hải đảo. Tài nguyên biển và hải đảo bao gồm tài nguyên sinh vật và tài nguyên phi sinh vật thuộc khối nước biển, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển, vùng đất ven biển và quần đảo, đảo, bãi cạn lúc chìm lúc nổi, bãi ngầm thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam.
Ưu tiên bố trí không gian biển cho phát triển du lịch sinh thái, du lịch địa chất thám hiểm khoa học, du lịch cộng đồng; du lịch văn hóa; du lịch ra các đảo, vùng biển xa bờ, duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 11 - 12%/năm, về khách quốc tế từ 8 - 10% /năm và khách nội địa từ 5 - 6%/năm.
Phát triển hệ thống cảng biển xanh, thiết lập các khu vực biển đặc biệt nhạy cảm, tuyến hàng hải, có tính đến bối cảnh biến động trong khu vực và quốc tế. Các bến cảng khách quốc tế gắn với các vùng động lực phát triển du lịch; các bến cảng quy mô lớn phục vụ các khu kinh tế, khu công nghiệp; các bến cảng tại các huyện đảo phục vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng - an ninh và chủ quyền biển đảo; các bến cảng tại các huyện đảo phục vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng - an ninh và chủ quyền biển đảo.
Phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển, khai thác thủy sản xa bờ, bảo tồn nguồn lợi thủy sản nhằm mục tiêu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất thủy sản đạt 3,0 - 4,0%/năm; tổng sản lượng thủy sản sản xuất trong nước đạt 9,8 triệu tấn; trong đó sản lượng nuôi trồng thủy sản 7,0 triệu tấn, sản lượng khai thác thủy sản 2,8 triệu tấn.
Phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế ven biển và các đảo với các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghệ nền tảng, công nghệ nguồn. Phấn đấu số lượng doanh nghiệp thực hiện đổi mới công nghệ tăng trung bình 20%/năm; phát triển năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới thân thiện môi trường, đảm bảo tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng tiêu thụ năng lượng sơ cấp đạt 32,3%.
Ưu tiên nguồn lực để đẩy mạnh các hoạt động, mô hình khai thác, sử dụng tài nguyên hiệu quả, thân thiện môi trường, các dự án đáp ứng tiêu chí kinh tế tuần hoàn, phù hợp với trữ lượng tài nguyên và sức chứa sinh thái; hạn chế các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên bằng các công nghệ lạc hậu, hiệu quả thấp, gây tổn hại đến tài nguyên, ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học.
Một định hướng nhiệm vụ khác của Chiến lược là bảo tồn đa dạng sinh học và nguồn lợi biển và hải đảo. Bảo vệ, duy trì hệ thống các khu bảo tồn hiện có; điều tra, khảo sát, đánh giá đề xuất thành lập các khu bảo tồn mới trên các vùng biển, ven biển và hải đảo; tăng cường công tác bảo tồn đa dạng sinh học ngoài khu bảo tồn; phục hồi các hệ sinh thái biển và ven biển bị suy thoái.
Đến năm 2030, tăng diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia, 80% các khu vực biển có đa dạng sinh học cao, dịch vụ hệ sinh thái quan trọng được áp dụng chính sách bảo tồn hiệu quả, diện tích rừng ngập mặn ven biển được phục hồi tối thiểu bằng mức năm 2000.
Đẩy mạnh điều tra, đánh giá và xác định mức độ dễ bị tổn thương, tính nguy cấp của các loài sinh vật biển đặc hữu, có giá trị khoa học và kinh tế để đưa ra các phương án, giải pháp bảo vệ, bảo tồn và phục hồi.
Thiết lập, mở rộng và tăng cường năng lực quản lý các khu vực tập trung sinh sản, khu vực thủy sản còn non sinh sống và đường di cư của các loài thủy sản. Đến năm 2030, 100% các khu vực bảo vệ nguồn lợi thủy sản được xác định và quản lý hiệu quả.
Kiểm soát chặt chẽ hoạt động khai thác và buôn bán xuyên biên giới các loài sinh vật biển hoang dã thuộc danh mục cần được bảo tồn...
Để đạt được các mục tiêu, nhiệm vụ nêu trên, Chiến lược đề ra các giải pháp chủ yếu như: Hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo; phát triển khoa học, công nghệ; chủ động tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế về quản lý, nghiên cứu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; đẩy mạnh giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực biển; xây dựng cơ chế tài chính bền vững phục vụ khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên biển và hải đảo; xây dựng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo quốc gia...
Theo Đại biểu Nhân dân
(vasep.com.vn) Trong 8 tháng đầu năm 2026, Trung Quốc xuất khẩu 2,953 triệu tấn sản phẩm thủy sản, tăng 4% so với cùng kỳ năm 2025. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu đạt 13,046 tỷ USD, giảm 0,5%, cho thấy giá trị bình quân mỗi tấn hàng xuất khẩu tiếp tục chịu sức ép.
(vasep.com.vn) Do xu hướng ăn uống giàu protein và thực phẩm phù hợp với người sử dụng thuốc GLP-1 ngày càng phổ biến, doanh số thủy sản đóng hộp tại Mỹ đang tăng mạnh.
(vasep.com.vn) Sự gia tăng sản xuất và tiêu thụ cá nuôi đang thúc đẩy các khoản đầu tư mới vào chuỗi giá trị thủy sản tại Brazil. Coopavel, một trong những hợp tác xã nông nghiệp lớn tại bang Paraná, đang mở rộng hoạt động sang lĩnh vực cá, tập trung vào xây dựng và phát triển cơ sở giết mổ, chế biến cá rô phi.
(vasep.com.vn) Chuỗi nhà hàng sushi băng chuyền Kura Sushi USA đang đẩy mạnh các sản phẩm thủy sản cao cấp theo mùa với 4 món ăn mới được giới thiệu trong thời gian giới hạn, nổi bật với cá tuyết đen nướng lửa và cá chình anago theo phong cách Nhật Bản truyền thống.
(vasep.com.vn) Quần thể cá mòi Sardinella, nguồn thực phẩm giàu protein quan trọng đang suy giảm nhanh chóng tại vùng biển ngoài khơi Guinea-Bissau, Tây Phi. Theo một báo cáo của tổ chức báo chí điều tra OCCRP, nguyên nhân chính bắt nguồn từ hoạt động đánh bắt công nghiệp hai loài cá mòi Sardinella (Sardinella maderensis và Sardinella aurita) để sản xuất bột cá - một loại phụ gia cung cấp thêm protein và dưỡng chất dùng trong thức ăn chăn nuôi.
(vasep.com.vn) Đất và vùng nguyên liệu, tín dụng, thuế, IUU và truy xuất nguồn gốc, thủ tục xuất khẩu, phòng vệ thương mại và khả năng giữ thị trường… là những vấn đề VASEP cùng các doanh nghiệp hội viên trực tiếp báo cáo và đề xuất kiến nghị tại cuộc làm việc với Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc sáng ngày 25/9/2026. Các ý kiến từ thực tiễn doanh nghiệp được Phó Thủ tướng đánh giá cao và giao Văn phòng Chính phủ tổng hợp, chuyển các bộ, ngành xem xét, xử lý theo thẩm quyền.
(vasep.com.vn) Làn sóng thuế quan của Hoa Kỳ đang tạo ra một phản ứng mới trong thương mại quốc tế: thay vì chỉ tìm cách thích ứng với thị trường Mỹ, nhiều nền kinh tế đang đẩy nhanh ký kết và mở rộng các hiệp định thương mại song phương, khu vực nhằm tạo thêm cửa ra cho hàng hóa. Diễn biến này ngày càng đáng chú ý đối với thủy sản, ngành có chuỗi cung ứng toàn cầu và mức độ cạnh tranh cao. Khi thuế nhập khẩu giữa các nguồn cung chỉ chênh nhau vài phần trăm, việc một sản phẩm được hưởng ưu đãi từ hiệp định thương mại hay phải chịu thuế thông thường có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định mua hàng.
(vasep.com.vn) Thị trường thủy sản Nhật Bản đang chịu sức ép khi giá tăng nhanh hơn mức chi tiêu của hộ gia đình. Trong tháng 7/2026, chi tiêu cho cá và thủy sản tăng khoảng 2% so với cùng kỳ năm trước, trong khi giá cá và thủy sản tăng 9%, riêng thủy sản tươi tăng tới 12,4%. Điều này cho thấy mức tăng chi tiêu chưa đồng nghĩa với lượng thủy sản tiêu thụ tăng.
(vasep.com.vn) Với hơn 24 năm kinh nghiệm, ông Willem Schoonbee được bổ nhiệm thành Giám đốc điều hành (CEO) CFEED từ ngày 24/8/2026. Trong bối cảnh công ty liên tục mở rộng hoạt động, ông Schoonbee cho biết các ưu tiên trước mắt là ổn định sản xuất, đồng nhất chất lượng sản phẩm và thắt chặt quan hệ khách hàng.
(vasep.com.vn) Xuất khẩu cá rô phi Việt Nam tiếp tục duy trì mức tăng tích cực trong 8 tháng đầu năm 2026, với tổng kim ngạch đạt 90 triệu USD, tăng 43% so với cùng kỳ năm 2025. Tuy nhiên, riêng tháng 8, xuất khẩu đạt 11 triệu USD, giảm 8%, cho thấy diễn biến thị trường chưa đồng đều. Trong đó, Brazil tiếp tục là thị trường chủ lực, trong khi Nhật Bản ghi nhận mức tăng đáng chú ý và mở thêm hướng phát triển cho sản phẩm cá rô phi Việt Nam.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn