Định vị sản xuất
Nguồn lợi thủy sản là tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo, nhưng hữu hạn. Do vậy, để hướng tới phát triển bền vững, ngành thủy sản đã xác định chuyển trọng tâm sang lĩnh vực NTTS, giảm cường lực khai thác. Chính vì thế, NTTS từ một nghề sản xuất phụ, mang tính chất tự cấp tự túc đã trở thành một ngành sản xuất hàng hóa tập trung với trình độ kỹ thuật tiên tiến, phát triển ở tất cả các thủy vực nước ngọt, nước lợ, nước mặn.
NTTS đang từng bước trở thành một trong những ngành sản xuất hàng hóa chủ lực, phát triển rộng khắp, có vị trí quan trọng và đang tiến đến xây dựng các vùng sản xuất tập trung.
Theo Chương trình quốc gia phát triển NTTS giai đoạn 2021 – 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt mới đây, NTTS trong giai đoạn tới phát triển hiệu quả, bền vững, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị và khả năng cạnh tranh của sản phẩm NTTS; đáp ứng được các yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu.
Cụ thể, đến năm 2025, tổng sản lượng NTTS đạt 5,6 triệu tấn/năm, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 7,8 tỷ USD/năm, tốc độ tăng trưởng giá trị NTTS đạt trung bình 4%/năm; đến năm 2030, tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 7 triệu tấn/năm, tốc độ tăng trưởng giá trị nuôi đạt trên 4,5%/năm. Cùng đó, xây dựng chuỗi liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ, đảm bảo đầu ra ổn định cho trên 50% sản lượng sản phẩm NTTS. Đồng thời đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng đầu mối thiết yếu đáp ứng yêu cầu sản xuất cho trên 50 vùng NTTS tập trung và vùng sản xuất giống tập trung.
Để thực hiện được mục tiêu đặt ra, Chương trình này đã xây dựng lên tổng số 24 dự án với tổng nguồn vốn cần thiết là 7.000 tỷ đồng. Trong đó, theo ông Nhữ Văn Cẩn, Vụ trưởng Vụ Nuôi trồng thủy sản: Giai đoạn 2021 – 2030, Chính phủ đã xác định 9 nhóm dự án với tổng kinh phí 1.000 tỷ đồng về phát triển NTTS và 19 dự án/nhóm dự án đầu tư, nâng cấp, hoàn thiện cơ sở hạ tầng phát triển NTTS ưu tiên với tổng kinh phí 6.000 tỷ đồng.
Xác định trọng tâm
Chương trình quốc gia phát triển NTTS giai đoạn 2021 – 2030 sẽ tập trung vào 6 nội dung trọng điểm. Trong đó, về sản xuất giống sẽ chú trọng nâng cao năng lực sản xuất, đồng thời phát triển sản xuất giống thủy sản theo nhóm loài. Trong đó, chủ động sản xuất, cung ứng được trên 60% nhu cầu tôm sú, TTCT bố mẹ và 100% cá tra bố mẹ chọn giống; cải thiện chất lượng con giống các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao và khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn.
Về nuôi, nhóm loài phát triển sẽ bao gồm tôm nước lợ; cá tra; cá rô phi; nhóm cá biển, tôm hùm, nhuyễn thể; cá nước lạnh; các loài giáp xác (trừ tôm nước lợ, tôm hùm); cá truyền thống, bản địa, thủy đặc sản.
Riêng với tôm nước lợ, sẽ áp dụng kỹ thuật mới, tiên tiến vào sản xuất để tiết kiệm nước, nhiên liệu, thân thiện với môi trường, hướng tới không sử dụng kháng sinh trong sản xuất, tạo sản phẩm có chất lượng, giá trị cao, đáp ứng các yêu cầu của thị trường; nuôi có chứng nhận… Cùng đó, đa dạng hóa các phương thức nuôi theo điều kiện từng vùng và thích ứng với biến đổi khí hậu; Ưu tiên phát triển các hình thức nuôi có kiểm soát nhiệt độ vào mùa đông (đối với các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh đến Thừa Thiên – Huế); Ưu tiên phát triển các hình thức nuôi tôm sú trong rừng ngập mặn, nuôi hữu cơ, tôm – lúa…
Đối với cá tra, thực hiện kiểm soát chặt chẽ điều kiện cơ sở nuôi theo các quy định hiện hành, khuyến cáo mở rộng diện tích nuôi theo các tiêu chuẩn để tạo sản phẩm chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu của thị trường; Khuyến khích áp dụng công nghệ nuôi mới, tiết kiệm nước, thích ứng với biến đổi khí hậu và công nghệ xử lý nước thải, bùn thải để bảo vệ môi trường.
“Về nhóm tăng trưởng của giai đoạn tới, chúng ta sẽ chú trọng vào nhuyễn thể, cá biển và rong tảo biển. Với nhóm cá tra, chúng ta không tăng trưởng nhiều về sản lượng nhưng sẽ tăng trưởng về giá trị”, ông Cẩn cho biết.
Tìm giải pháp khả thi
Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Phùng Đức Tiến từng nhấn mạnh: Việt Nam có diện tích mặt nước nước sông, suối, bãi triều, đầm phá, cửa sông rộng lớn… tạo nên tiềm năng to lớn để phát triển NTTS. Hoạt động sản xuất NTTS nước ta không ngừng phát triển, tạo vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế đất nước, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định phát triển kinh tế xã hội nhiều vùng nông thôn, vùng núi, ven biển… Thế nhưng, vấn đề trong NTTS hiện nay là hạ tầng và môi trường, môi trường kém thì hiệu quả nuôi thấp, không có sức cạnh tranh…
Cũng băn khoăn về tình hình nuôi thủy sản hiện nay, ông Nguyễn Tử Cương, Ủy viên Ban Thường vụ Hội Nghề cá Việt Nam, chia sẻ 3 vấn đề. Một là về con giống, hiện nay chúng ta tập trung vào hai đối tượng nuôi chính là tôm nước lợ và cá tra. Trong đó, giống cá tra hiện nay đang bị thoái hóa dần, dẫn đến cá ăn nhiều nhưng không lớn, mắc nhiều bệnh, tỷ lệ chết cao. Về tôm nước lợ, thì tôm sú gần như dựa vào tự nhiên, với TTCT thì hiện chúng ta mới chỉ sản xuất khoảng 5%, còn lại là nhập khẩu. Thứ nữa là về cách đánh giá VietGAP, chúng ta không thể đánh giá và chứng nhận theo tiêu chuẩn, mà bắt buộc phải là quy chuẩn, làm thực chất chứ không phải hình thức. Vấn đề nữa là hiện có tình trạng người dân mua phải thức ăn thủy sản không đảm bảo chất lượng, chế phẩm sinh học, thuốc thú y không hiệu quả, do đó, cần phải siết chặt quản lý.
Đồng tình với điều này, ông Cao Văn Cường, Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Thanh Hóa, đã kiến nghị: Tổng cục Thủy sản chỉ đạo các tỉnh có vùng sản xuất giống tôm tập trung kiểm soát tốt chất lượng giống bố mẹ nhập vào, tôm giống trước khi sản xuất cho các vùng nuôi thương phẩm trong cả nước.
Còn về NTTS trên biển, ông Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, cho rằng: Trong Chương trình phát triển này thì NTTS trên chưa được quy định chi tiết. Khác với nuôi thủy sản trong ao, đầm, phát triển nuôi biển yêu cầu phải chuyển từ nghề cá nhân dân sang nghề cá thương mại, bởi vậy nó phải gắn với việc giao khu vực biển, cùng đó là một quy định rõ ràng. Các địa phương cần có hướng dẫn cụ thể, minh bạch về các tiêu chuẩn, quy chuẩn để triển khai thực hiện, tránh tình trạng như hiện nay là dân tự làm và tự chịu.
Thu Hằng (theo Thủy sản Việt Nam)
(vasep.com.vn) Thị trường thủy sản thế giới ngày 9/9/2026 ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý về giá nguyên liệu, nguồn cung và cạnh tranh thị trường. Giá tôm Ecuador tiếp tục giảm do dư cung, trong khi giá cá rô phi nguyên liệu tại Trung Quốc tăng vì thiếu cá cho chế biến. Mỹ tăng mua cá da trơn nuôi trong nước, còn Indonesia đẩy mạnh đơn hàng cá ngừ và thủy sản chế biến tại Nhật Bản. Bên cạnh đó, nguồn cá hồi tự nhiên của Nga tiếp tục ở mức thấp, Trung Quốc mở rộng năng lực chế biến cá hồi, trong khi giá bột cá, dầu cá và chi phí sản phẩm cá chế biến vẫn duy trì ở mức cao.
(vasep.com.vn) Xuất khẩu cá hồi Na Uy sang Trung Quốc vừa đạt mức cao kỷ lục theo tháng, cho thấy đà tăng trưởng mạnh của thị trường thủy sản Trung Quốc. Theo Hội đồng Hải sản Na Uy (NSC), lượng cá hồi Na Uy xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 12.464 tấn, trị giá khoảng 1 tỷ NOK (107 triệu USD) trong tháng 8/2026.
(vasep.com.vn) Tuần duyên Mỹ cùng lực lượng Canada, Nhật Bản và Hàn Quốc đã hoàn thành Chiến dịch North Pacific Guard 2026 nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý hoạt động khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).
(vasep.com.vn) Chi tiêu của các hộ gia đình Nhật Bản cho cá và thủy sản trong tháng 7/2026 tăng khoảng 2% so với cùng kỳ năm trước. Cá hồi là một trong những mặt hàng nổi bật khi chi tiêu cho cả cá hồi tươi và cá hồi muối đều tăng.
(vasep.com.vn) Xuất khẩu tôm Indonesia đang dần phục hồi sau cú sốc từ sự cố nhiễm Cs-137 khiến Mỹ siết kiểm soát nhập khẩu cuối năm 2025. Tuy nhiên, dù thương mại với Mỹ đã trở lại gần mức bình thường, xuất khẩu tôm của Indonesia trong năm 2026 được dự báo vẫn dưới 200.000 tấn – mức thấp nhất kể từ năm 2018.
(vasep.com.vn) Xuất khẩu sang Mỹ giảm mạnh trong tháng 8/2026, trong khi Trung Quốc, ASEAN và nhiều thị trường châu Á tiếp tục tăng. Bài toán của thủy sản Việt Nam lúc này không chỉ là giữ thị phần tại thị trường chiến lược này mà phải đồng thời xây thêm các trụ tăng trưởng đủ lớn để giảm rủi ro.
(vasep.com.vn) Chỉ số Nhu cầu Tôm của Expana (Expana Shrimp Demand Index) đã tăng lên 95,95 điểm trong giai đoạn tháng 6–7/2026, đưa thị trường trở lại vùng “ổn định” (Steady) sau thời gian khá dài nằm trong vùng co hẹp. Tuy nhiên, các dữ liệu đi kèm cho thấy sự cải thiện này chưa đồng nghĩa với nhu cầu tiêu dùng tôm tại Mỹ đã thực sự phục hồi.
(vasep.com.vn) Canada đã loại cá và thủy sản Mỹ khỏi danh sách hàng hóa dự kiến chịu thuế trả đũa, chỉ một ngày sau khi công bố các biện pháp thuế mới đối với khoảng 20 tỷ USD hàng nhập khẩu từ Mỹ.
(vasep.com.vn) Xuất khẩu thủy sản của Na Uy tiếp tục ghi nhận kết quả tích cực trong tháng 8/2026, đạt 16 tỷ NOK (khoảng 1,7 tỷ USD), tăng 1,9 tỷ NOK, tương đương 14% so với cùng kỳ năm 2025. Đây là mức giá trị xuất khẩu cao kỷ lục trong tháng 8, bất chấp đồng krone Na Uy mạnh hơn đáng kể so với cùng kỳ năm trước. Theo Hội đồng Hải sản Na Uy, tăng trưởng chủ yếu đến từ sản lượng cá hồi tăng cùng với giá bán cao hơn, bên cạnh đà tăng giá của cá tuyết, cá thu, cá trích và cá minh thái.
(vasep.com.vn) Xuất khẩu cá ngừ Việt Nam sang Nhật Bản trong 7 tháng đầu năm 2026 gần như đi ngang so với cùng kỳ. Trong khi đó, Nhật Bản đang nhập ít hơn về lượng nhưng giá trị lại tăng. Điều này cho thấy cơ hội tại thị trường này không nằm ở tăng sản lượng bằng mọi giá, mà ở những sản phẩm có chất lượng, quy cách và giá trị phù hợp.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn