Siêu thâm canh tôm thẻ chân trắng độ mặn thấp

Nguyên liệu 08:37 30/10/2024
Những năm gần đây, hoạt động nuôi tôm thẻ chân trắng trong các vùng địa lý có độ mặn thấp, nằm sâu trong đất liền đang phát triển nhanh do đặc điểm sinh học của tôm chống chịu thay đổi lớn về độ mặn và mật độ thả giống cao (Prangnell và cộng sự, 2019a).

Nghiên cứu so sánh giữa hệ thống nuôi trồng thủy sản tuần hoàn, biofloc và hệ thống cộng sinh

Điều này giúp có thể phổ biến hoạt động bằng cách sử dụng các hệ thống thâm canh, chẳng hạn như Hệ thống nuôi trồng thủy sản tuần hoàn (RAS), Hệ thống công nghệ Biofloc (BFT) và Hệ thống Synbiotic. Tuy nhiên, việc thiếu các nghiên cứu so sánh giữa các hệ thống nuôi này sử dụng nước có độ mặn thấp và tác động của việc sử dụng chúng đối với việc kiểm soát các hợp chất nitơ và thành phần vi khuẩn của hệ thống dẫn đến khó có thể đưa ra những lựa chọn tối ưu. Do đó, mục đích của bài viết này này là phân tích tác động của các hệ thống nuôi khác nhau đối với chất lượng nước, thành phần sinh vật phù du và sự tăng trưởng của tôm thẻ trong nước có độ mặn thấp và mật độ thả cao. 

Nghiên cứu này được thực hiện tại Trung tâm nghiên cứu và mở rộng nông nghiệp thủy sản thuộc Đại học bang Virginia, Hoa Kỳ. Tôm được nuôi thử nghiệm trong nước có độ mặn thấp trong 30 ngày trong các bể 0,1 m3 để đánh giá các phương pháp xử lý sau, tất cả đều có ba lần lặp lại: Hệ thống nuôi trồng thủy sản tuần hoàn (RAS), Hệ thống công nghệ Biofloc (BFT) và Hệ thống Synbiotic (Synbiotic). Nước sử dụng trong thí nghiệm được chuẩn bị bằng cách trộn nước ngọt đã khử clo với muối nhân tạo để đạt độ mặn 2 g L-1. Trong nghiệm thức RAS, nước liên tục được tuần hoàn bằng máy bơm ly tâm có lưu lượng khoảng 180 L h-1 (Doheny, model 2601, 0,75 HP), được lọc qua bộ lọc cơ học và sinh học trước khi đưa các đơn vị thí nghiệm trở lại. Hệ thống RAS có tổng thể tích khoảng 0,6 m3. Nghiệm thức BFT và Synbiotic là trao đổi nước tĩnh chứa các chất nền nhân tạo được đưa vào các đơn vị thí nghiệm để hỗ trợ quá trình nitrat hóa. Tất cả các đơn vị thử nghiệm đều được chiếu sáng bằng đèn LED có quang phổ 5000 K + 660 nm ánh sáng đỏ. Đèn được đặt cách bể 33 cm và theo chu kỳ quang hợp 12 giờ sáng và 12 giờ tối. Trong tất cả các nghiệm thức, nhiệt độ nước được duy trì gần 30 °C. Trong quá trình thử nghiệm, tôm được cho ăn hai lần một ngày với thức ăn thương mại có chứa 35% protein thô và 7% lipid (Zeigler Bros.). Lượng thức ăn hàng ngày được tính toán theo Jory et al. (2001). 

Chất lượng nước 

Nhiệt độ được giữ ở mức khoảng 30 °C trong tất cả các nghiệm thức (Bảng 2). DO cao hơn 5 mg L−1. TAN, NO3−-N và TSS cao hơn trong các nghiệm thức BFT và Synbiotic so với RAS (giá trị p <0,01) (Bảng 1). SS cao hơn trong nghiệm thức BFT so với RAS và Synbiotic (giá trị p <0,05) (Bảng 1). Trong quá trình thử nghiệm, nghiệm thức BFT có nhiều thay đổi hơn khi TAN trung bình vượt quá 1 mg L−1 (Hình 1a). Nồng độ trung bình của NO2−-N thấp hơn 0,5 mg L−1 trong tất cả các nghiệm thức, không có đột biến trong suốt thời gian thử nghiệm (Bảng 2, Hình 1b). Một mô hình nồng độ NO3−-N tăng đã được quan sát thấy trong suốt quá trình thử nghiệm ở nghiệm thức BFT và Synbiotic (Hình 1c). 

Vào đầu thử nghiệm, Ca2+ cao hơn ở RAS so với BFT (Bảng 2. Mg2+ và tỷ lệ Mg:Ca cao hơn ở BFT và Synbiotic so với RAS. Độ cứng tổng thể cao hơn ở BFT so với RAS (Bảng 2). Vào cuối thử nghiệm, Ca2+ cao hơn ở RAS so với BFT và độ cứng tổng thể cao hơn ở RAS và Synbiotic so với BFT (Bảng 3). 

Bảng 1. Các biến số về chất lượng nước trong quá trình nuôi siêu thâm canh tôm thẻ chân trắng

Các biến số về chất lượng nước trong quá trình nuôi siêu thâm canh tôm thẻ chân trắng trong hệ thống nuôi trồng thủy sản tuần hoàn (RAS), công nghệ biofloc (BFT) và hệ thống cộng sinh (Synbiotic) với nước có độ mặn thấp trong 30 ngày.

Dữ liệu là giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn. DO: oxy hòa tan; TAN: tổng nitơ amoniac; NO2−-N: nitơ nitrit; NO3−-N: nitơ nitrat; CO2: cacbon dioxit; TSS: tổng chất rắn lơ lửng; SS: chất rắn lắng. 

Bảng 2. Thành phần ion nước trong quá trình nuôi siêu thâm canh tôm thẻ chân trắng 

Thành phần ion nước trong quá trình nuôi siêu thâm canh tôm thẻ chân trắng trong hệ thống nuôi trồng thủy sản tuần hoàn (RAS), công nghệ biofloc (BFT) và hệ thống cộng sinh (Synbiotic) với nước có độ mặn thấp trong 30 ngày. 

Hình 1. Nồng độ nitơ amoniac tổng số (TAN, a), nitơ nitrit (NO2−-N, b) và nitơ nitrat (NO3−-N, c)

Nồng độ nitơ amoniac tổng số (TAN, a), nitơ nitrit (NO2−-N, b) và nitơ nitrat (NO3−-N, c) trong quá trình nuôi siêu thâm canh tôm thẻ chân trắng trong hệ thống nuôi trồng thủy sản tuần hoàn (RAS), công nghệ biofloc (BFT) và hệ thống cộng sinh (Synbiotic) với nước có độ mặn thấp trong 30 ngày. 

Thành phần sinh vật phù du 

Thực vật phù du 

Nghiệm thức BFT có tổng lượng thực vật phù du cao hơn so với hai nghiệm thức còn lại (giá trị p <0,01) (Hình 2a). Nghiệm thức RAS chủ yếu là Bacillariophyta, trong khi BFT và Synbiotic chủ yếu là Chlorophyta (Hình 3a). BFT có tổng lượng Chlorophyta và Bacillariophyta cao hơn so với Synbiotic và RAS (giá trị p <0,01) (Hình 4). 

Động vật phù du 

BFT và Synbiotic có tổng số lượng động vật phù du cao hơn so với RAS (giá trị p <0,01) (Hình 2b). Tất cả các nghiệm thức đều có sự thống trị của động vật nguyên sinh có roi (Hình 3b). BFT và Synbiotic cho thấy một mô hình tương tự về số lượng tương đối của động vật phù du (Hình 3b). BFT và Synbiotic có số lượng roi và luân trùng cao hơn so với RAS (giá trị p <0,01) (Hình 5a và c). Synbiotic có số lượng động vật nguyên sinh có lông và amip cao hơn so với RAS và BFT (giá trị p <0,01) (Hình 5b và d). 

Tăng trưởng của tôm 

Trọng lượng cuối cùng và tốc độ tăng trưởng hàng tuần cao hơn ở chế độ BFT và Synbiotic (giá trị p <0,05) (Bảng 3). Tỷ lệ sống sót năng suất cao hơn ở chế độ Synbiotic (giá trị p <0,01 và <0,05) (Bảng 3). FCR thấp hơn ở chế độ Synbiotic (giá trị p <0,05) (Bảng 3). 

Bảng 4. Kết quả tăng trưởng của tôm thẻ chân trắng vào cuối chu kỳ nuôi siêu thâm canh trong hệ thống nuôi trồng thủy sản tuần hoàn (RAS), công nghệ biofloc (BFT) và hệ thống cộng sinh (Synbiotic) với nước có độ mặn thấp trong 30 ngày. 

Hệ thống Synbiotic có thể được xem xét cho hệ thống siêu thâm canh tôm thẻ chân trắng với nước có độ mặn thấp. Synbiotic cung cấp khả năng kiểm soát tốt hơn các hợp chất nitơ trong suốt thời gian thử nghiệm so với BFT và lượng trùng lông và amip cao hơn so với RAS và BFT. Điều này được phản ánh trong tốc độ tăng trưởng của tôm, trong nghiệm thức này đạt được tỷ lệ sống, năng suất cao hơn và FCR thấp hơn so với RAS và BFT. 

Nguồn: Tép Bạc

nuoi tham canh tuan hoan

TIN MỚI CẬP NHẬT

Thủy sản Brazil tăng trưởng kỷ lục, hướng tới tiêu dùng bền vững

 |  09:09 15/05/2026

(vasep.com.vn) Brazil đang ghi nhận bước phát triển mạnh mẽ trong ngành thủy sản khi tổng sản lượng hằng năm vượt 4,8 triệu tấn, đánh dấu giai đoạn trưởng thành về quy mô sản xuất. Trong đó, khai thác tự nhiên đóng góp khoảng 1,78 triệu tấn, còn nuôi trồng thủy sản chiếm ưu thế với hơn 3,1 triệu tấn.

Hạ viện Mỹ thông qua dự luật nông nghiệp mới

 |  09:08 15/05/2026

(vasep.com.vn) Hạ viện Mỹ vừa thông qua phiên bản mới của Dự luật Nông nghiệp (Farm Bill) – bộ luật quan trọng định hướng chính sách nông nghiệp và thực phẩm của nước này – sau khi bổ sung hai sửa đổi liên quan đến ngành thủy sản trước khi bỏ phiếu thông qua.

Nguyên liệu biển: Từ phụ thuộc khai thác sang kinh tế tuần hoàn

 |  09:01 15/05/2026

(vasep.com.vn) Triển vọng ngành nguyên liệu biển đến sau năm 2030 đang dần định hình theo hướng ổn định nhưng chuyển đổi mạnh mẽ, trong bối cảnh nhu cầu thủy sản toàn cầu tiếp tục tăng, đặc biệt tại châu Á và châu Phi. Theo dự báo của OECD-FAO, nuôi trồng thủy sản sẽ giữ vai trò chủ đạo, chiếm khoảng 56% tổng nguồn cung hơn 200 triệu tấn vào năm 2034. Tuy nhiên, dù nhu cầu duy trì, giá thủy sản toàn cầu dự kiến giảm theo giá trị thực, phản ánh áp lực cạnh tranh và cải thiện hiệu quả sản xuất.

Mùa cá tuyết Iceland khởi động, giá haddock lao dốc mạnh

 |  08:59 15/05/2026

(vasep.com.vn) Mùa đánh bắt cá thịt trắng tại Iceland đã chính thức khởi động từ cuối tháng 4, kéo theo nguồn cung tăng mạnh và khiến giá nhiều loài cá giảm sâu, đặc biệt là cá haddock.

Giá tôm châu Á tại Mỹ giảm trong tuần đầu tháng 5, tôm Ecuador giữ ổn định

 |  08:55 15/05/2026

(vasep.com.vn) Trong tuần đầu tháng 5/2026, giá tôm thẻ chân trắng nuôi từ châu Á tại thị trường nhập khẩu Mỹ tiếp tục xu hướng giảm, trong khi giá tôm Ecuador nhìn chung vẫn duy trì ổn định, phản ánh sự phân hóa ngày càng rõ trên thị trường tôm toàn cầu.

Gia Lai đề xuất xây trung tâm đấu giá cá ngừ đầu tiên Đông Nam Á

 |  16:39 14/05/2026

UBND tỉnh Gia Lai đề xuất đầu tư cảng cá thông minh Tam Quan, hướng tới hình thành trung tâm logistics thủy sản và trung tâm đấu giá cá ngừ đại dương đầu tiên ở Đông Nam Á.

Trung Quốc xóa thuế nhập khẩu với 53 nước châu Phi

 |  11:12 14/05/2026

(vasep.com.vn) Trung Quốc đã chính thức bãi bỏ thuế nhập khẩu đối với gần như toàn bộ các quốc gia châu Phi, có hiệu lực từ ngày 1/5, theo hãng thông tấn Xinhua. Động thái này mở rộng chính sách ưu đãi thương mại trước đó, nâng tổng số nước được hưởng thuế suất 0% lên 53 quốc gia.

Walmart mở rộng 20 cửa hàng, đại tu hệ thống và thương hiệu nhãn riêng Great Value

 |  11:10 14/05/2026

(vasep.com.vn) Chuỗi bán lẻ lớn nhất Mỹ Walmart đang đẩy mạnh chiến lược mở rộng và nâng cấp hệ thống cửa hàng trong bối cảnh cạnh tranh bán lẻ ngày càng gay gắt.

Doanh số bán cá ngừ được chứng nhận bền vững tăng

 |  11:02 14/05/2026

(vasep.com.vn) Trong bối cảnh phục hồi nhẹ của hàng đóng hộp, doanh số bán cá ngừ có nhãn của Hội đồng Quản lý Biển (MSC) đã tăng 50% trong năm qua.

Công nghệ lên men tối sản xuất astaxanthin: Ứng dụng, lợi ích và thách thức

 |  10:56 14/05/2026

(vasep.com.vn) Astaxanthin là sắc tố tự nhiên quan trọng được sử dụng rộng rãi trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt với các loài như cá hồi, tôm, cua và một số loài cá cảnh. Chất này không chỉ giúp tạo màu sắc hấp dẫn mà còn có tác dụng chống oxy hóa mạnh, tăng cường miễn dịch và cải thiện tăng trưởng cho vật nuôi.

VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM

Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội

Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO

Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu

Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông

Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn

Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh

Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn

VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội

Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn

© Copyright 2020 - Mọi hình thức sao chép phải được sự chấp thuận bằng văn bản của VASEP

DANH MỤC