Hiệu quả và năng suất sản xuất cá tra so với cá hồi, cá chẽm và cá tráp châu Âu

Cá thịt trắng 13:51 11/09/2018 714
Trong 20 năm qua (1998-2018) Ngành SXCB&XK cá tra đã có sự phát triển không ngừng và mang được "tầm vóc" quốc tế. XK cá tra gia tăng cả về khối lượng và giá trị, sự đa dạng sản phẩm và thị trường XK. Trong suốt hành trình phát triển ấy có những giai đoạn chúng ta vui mừng vì sự phát triển ngoạn mục về XK, nhưng chúng ta cũng gặp không ít cản trở và nỗi lo cho sự tăng trưởng bền vững của ngành SX mặt hàng này. Năm 2017, sản lượng cá tra Việt Nam đạt hơn 1,2 triệu tấn

Hiện nay, diện tích nuôi dao động 5.500 ha, trong đó các trang trại hộ gia đình chiếm 49%, các công ty nông nghiệp chiếm 49% và tập thể nông dân 2%.

Sản xuất cá tra

 

 

Sản xuất cá hồi

Và câu hỏi đặt ra là:

1. Tại sao xuất khẩu cá tra vào thị trường EU giảm về cả sản lượng, giá bán và giá trị?

2. Vấn đề liên quan đến các sản phẩm từ cá tra? (tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm? 3. Truy xuất nguồn gốc? Sản xuất thiếu thân thiện môi trường? Các chứng nhận chất lượng? TBTs…).

4. Chiến lược xây dựng thương hiệu?

5. Có phải do sức ép cạnh tranh ngày càng lớn đối với cá tra ở thị trường EU? (nhiều đối thủ và sản phẩm thay thế hơn? hình ảnh bị bôi nhọ và vấn đề truyền thông?...)

6. Năng lực cạnh tranh của DNCBXK cá tra?

Hiệu quả và năng suất là nhân tố quan trọng phản ánh năng lực cạnh tranh của DN. Vậy các DNCBXK cá tra hoạt động với hiệu quả và năng suất sản xuất như thế nào? So sánh với các đối thủ?

Mục tiêu

       Ước lượng hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào (TE) của các DNCBXK cá tra Việt Nam

        Ước lượng sự thay đổi năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) của các DNCBXK cá tra Việt Nam

        So sánh chỉ số TE và TFP giữa các DNCBXK cá tra Việt Nam 

        So sánh chỉ số TE và TFP của DNCBXK cá tra Việt Nam với các DNCBXK cá hồi Na Uy và Vương Quốc Anh; và DNCBXK cá chẽm và tráp ở vùng Địa Trung Hải.

Phương pháp

Chỉ số năng suất Malmquist (MI) được sử dụng để đo lường sự thay đổi năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) của một doanh nghiệp: TFP=MI = EC×TC

- Trong đó EC là sự thay đổi hiệu quả đầu vào; TC là sự thay đổi hiệu quả công nghệ

EC =PEC×SEC

- Trong đó PEC là sự thay đổi hiệu quả kỹ thuật thuần túy; SEC là sự thay đổi hiệu quả quy mô 

Áp dụng các mô hình phân tích đường bao dữ liệu (DEA) theo định hướng đầu vào để ước lượng hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào (TE) và sự thay đổi năng suất (TFP) cho mỗi DN.

 

Kết quả chỉ số hiệu quả của các DNCB cá tra

 

Nhìn chung, trung bình các DNCB cá tra đã hoạt động ở mức dưới đường biên sản xuất hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả sử dụng nguồn lực bình quân của các doanh nghiệp giai đoạn 2009–2014 khoảng 67,7% dưới điều kiện CRS và 79,4% dưới giả định VRS, và hiệu quả quy mô đạt 85,5%. Trung bình các doanh nghiệp đã lãng phí nguồn lực 32,3% dưới điều kiện quy mô không đổi và 20,6% với điều kiện quy mô thay đổi. Vì vậy, các doanh nghiệp nên cải thiện hiệu quả của họ trung bình khoảng 14,5% để đạt hiệu quả quy mô tối ưu.

 
 

Những doanh nghiệp có quy mô lớn về doanh số và tài sản vốn (doanh nghiệp số 1, 8 và 20) đạt được hiệu quả hoàn toàn (TEVRS = 1) trong giai đoạn 2009-2014. Hơn một nửa số doanh nghiệp (12 doanh nghiệp) có chỉ số TEVRS thấp hơn mức hiệu quả trung bình trong mẫu nghiên cứu.

 
 

Kết quả cho thấy các DNCB cá tra xuất khẩu đang lãng phí cao trong việc sử dụng đầu vào của họ. Nguồn lực lãng phí lớn nhất là nguồn vốn nợ dài hạn với 45%/năm. Các doanh nghiệp quy mô lớn (mã số 1, 8 và 20) vẫn là những đơn vị sử dụng hiệu quả nguồn lực tài sản và vốn nợ. Có 9 doanh nghiệp (mã số 3, 4, 5, 6, 12, 14, 15, 16 và 17) sử dụng lãng phí hơn 30% đối với 4 nguồn lực đầu vào đang xem xét. Vì vậy, các doanh nghiệp này nên có những biện pháp quản trị tốt nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản và vốn, trong đó đặc biệt chú trọng vốn nợ dài hạn.

 

 

Hình này so sánh mức sử dụng nguồn lực đầu vào thực tế và dự báo qua từng năm. Nguồn lực lãng phí lớn nhất theo các năm là nguồn vốn nợ dài hạn. Năm 2011 là năm sử dụng nguồn lực tốt nhất so với các năm còn lại.

 

Sự thay đổi năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) của các doanh nghiệp trong mẫu tăng lên khoảng 14,1%/năm là do sự tăng lên của hiệu quả kỹ thuật (EC) với 8,1%/năm và cải tiến công nghệ (TC) với 5,5%/năm. Nhìn chung, tăng trưởng năng suất trong những năm cuối là nhờ sự cải tiến về mặt công nghệ.

Kết quả cho thấy có 12 doanh nghiệp (chiếm 60%) có năng suất bình quân tăng và có 8 doanh nghiệp (chiếm 40%) có năng suất giảm trong giai đoạn 2009–2014. Đa số các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ đã có cải tiến năng suất lớn. Tuy vậy, các doanh nghiệp cần có sự đầu tư cải tiến công nghệ, tiết kiệm nguồn lực để nâng cao hiệu quả và năng suất hơn nữa nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.

KẾT LUẬN

  • Hiệu quả sử dụng đầu vào của DNCB cá tra bình quân 67,7% (giả thiết hiệu suất không đổi theo quy mô -CRS) và 79,4% (hiệu suất thay đổi theo quy mô -VRS) à lãng phí nguồn lực 32,3% (điều kiện CRS) và 20,6% (điều kiện VRS).
  • Hiệu quả quy mô SE = 85,5% à Các DN nên cải thiện hiệu quả bình quân khoảng 14,5% để đạt hiệu quả quy mô tối ưu.
  • Hơn một nửa số DNCB cá tra khảo sát có chỉ số hiệu quả thấp hơn mức trung bình của ngành và các DNCB này đang lãng phí cao trong việc sử dụng nguồn lực tài sản và vốn nợ. Nguồn lực lãng phí lớn nhất là vốn nợ dài hạn.
  • Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) của các DNCB cá tra tăng lên 14,1%/năm: do sự tăng lên của hiệu quả sử dụng đầu vào (EC) với 8,1%/năm và cải tiến công nghệ (TC) với 5,5%/năm. Nhưng, tăng trưởng năng suất trong những năm cuối là nhờ sự cải tiến về mặt công nghệ.
  • Khoảng 60% DN có năng suất bình quân tăng và 40% có năng suất giảm. Đa số DN có quy mô vừa và nhỏ đã có cải tiến năng suất lớn. 
  • Hiệu quả sử dụng đầu vào (TE) và hiệu quả quy mô (SE) của DNCB cá tra thấp hơn so với các DNCB cá hồi Na Uy và Vương Quốc Anh.
  • DNCB cá tra Việt Nam lãng phí nhiều nguồn lực đầu vào hơn so với các DNCB cá hồi Na Uy và Vương Quốc Anh.

DNCB cá tra Việt Nam có tốc độ tăng trưởng năng suất (TFP) cao hơn so với các DNCB cá hồi Na Uy và Vương Quốc Anh, và DNCB cá chẽm/cá tráp châu Âu.   

Bài trình bày của TS. Nguyễn Ngọc Duy - Khoa Kinh tế, Trường Đại học Nha Trang tại Hội thảo “Sản xuất và thị trường thủy sản Châu Âu - Phát triển thị trường cá tra trong bối cảnh chiến tranh thương mại” ngày 23/8/2018 trong khuôn khổ Hội chợ Vietfish 2018

TIN MỚI CẬP NHẬT

Điểm tin thủy sản thế giới ngày 15/9/2026

 |  09:04 15/09/2026

(vasep.com.vn) Thị trường thủy sản thế giới ngày 15/9/2026 tiếp tục ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý về giá nguyên liệu, nguồn cung và xu hướng tiêu dùng. Giá cá ngừ vằn tại Bangkok tăng lên 2.100 USD/tấn, mức cao nhất trong hơn 3 năm, trong khi giá nhiều loài cá tại Nga tiếp tục đi lên. Bên cạnh đó, nguồn cung bột cá, dầu cá toàn cầu vẫn chịu sức ép, thúc đẩy xu hướng tận dụng phụ phẩm thủy sản. Tại châu Á, cá tra Việt Nam được chú ý tại Nhật Bản, còn nhu cầu rong biển Hàn Quốc và thủy sản nhập khẩu tại Việt Nam tiếp tục có những tín hiệu mới.

EU đình chỉ nhập khẩu một số sản phẩm động vật từ Brazil

 |  08:16 15/09/2026

(vasep.com.vn) Từ ngày 3/9/2026, Brazil không còn được phép xuất khẩu một số nhóm sản phẩm động vật dùng làm thực phẩm sang Liên minh châu Âu (EU), gồm thịt bò, gia cầm, thịt ngựa, sản phẩm nuôi trồng thủy sản, trứng, mật ong và lòng tự nhiên. Quyết định được đưa ra sau khi Brazil chưa đáp ứng các yêu cầu mới của EU về kiểm soát việc sử dụng thuốc thú y kháng sinh và chất kháng khuẩn trong chăn nuôi, sản xuất thực phẩm.

Hàn Quốc xây dựng kế hoạch hiện đại hóa đội tàu khai thác xa bờ

 |  08:15 15/09/2026

(vasep.com.vn) Ủy ban Đặc biệt của Tổng thống Hàn Quốc về Nông nghiệp, Thủy sản và Nông thôn vừa công bố kết quả của Nhóm Công tác Phát triển Chiến lược, tập trung vào việc nâng cao năng lực đội tàu khai thác xa bờ, đào tạo và giữ chân thuyền viên có chuyên môn, củng cố tài chính cho doanh nghiệp khai thác và mở rộng hoạt động tại các ngư trường quốc tế.

Thuế quan bất ổn đang làm suy yếu chính ngành thủy sản Hoa Kỳ

 |  08:15 15/09/2026

(vasep.com.vn) Việc Hoa Kỳ liên tục thay đổi căn cứ pháp lý, mức thuế và phạm vi áp dụng đang tạo ra một nghịch lý: thuế nhập khẩu có thể hỗ trợ một bộ phận ngư dân trong nước, nhưng đồng thời làm tăng chi phí, thu hẹp tiêu thụ và gây rủi ro cho các nhà nhập khẩu, chế biến, phân phối và xuất khẩu thủy sản Mỹ. Tác động lớn nhất không chỉ nằm ở mức thuế, mà ở tình trạng doanh nghiệp không thể biết chính sách nào sẽ còn hiệu lực trong vài tháng tới.

Điểm tin thủy sản thế giới ngày 14/9/2026

 |  10:47 14/09/2026

(vasep.com.vn) Thị trường thủy sản thế giới ngày 14/9 ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý về nguồn cung, giá cả và thương mại. Argentina dừng khai thác tôm đỏ, trong khi sản lượng cá ngừ Ecuador tiếp tục giảm. Tại châu Á, Nhật Bản đối mặt nguồn cá mòi suy giảm, còn Indonesia và Philippines đẩy mạnh hoạt động thương mại thủy sản. Bên cạnh đó, rủi ro El Niño tiếp tục gây sức ép lên nguồn nguyên liệu bột cá, dầu cá và chi phí nuôi trồng.

Tàu nhỏ không đăng ký làm gia tăng khai thác IUU và tội phạm trên biển

 |  08:09 14/09/2026

(vasep.com.vn) Các tàu nhỏ không đăng ký, không có dấu hiệu nhận diện quốc gia đang trở thành một thách thức lớn đối với an ninh hàng hải Đông Phi, khi được sử dụng cho khai thác IUU, buôn lậu ma túy, vũ khí, động vật hoang dã và thậm chí hỗ trợ cướp biển.

Chính sách thuế Hoa Kỳ đang làm xoay chuyển thương mại thủy sản thế giới

 |  08:05 14/09/2026

(vasep.com.vn) Các mức thuế mới của Hoa Kỳ không chỉ làm tăng giá thủy sản nhập khẩu, mà còn đang phân chia lại thị phần giữa các nước cung cấp, thúc đẩy doanh nghiệp chuyển hướng sang EU, Trung Quốc, Nhật Bản và các thị trường khu vực. Tôm Ecuador mở rộng tại Mỹ, Ấn Độ tăng bán sang châu Á và châu Âu; cá hồi Chile, Na Uy đứng trước áp lực cạnh tranh từ Canada, Iceland và Quần đảo Faroe; trong khi Việt Nam chịu bất lợi tương đối do mức thuế cao hơn một số đối thủ trực tiếp.

Xuất khẩu cá tra sang Anh: Cơ hội từ nhu cầu cá thịt trắng và xu hướng tiêu dùng tiện lợi

 |  08:14 13/09/2026

(vasep.com.vn) Xuất khẩu cá tra Việt Nam sang thị trường Anh đang duy trì đà tăng trưởng tích cực. Trong 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu cá tra sang Anh đạt 43 triệu USD, tăng 23% so với cùng kỳ năm trước. Riêng tháng 7, xuất khẩu đạt 7 triệu USD, tăng 30%, cho thấy nhu cầu tại thị trường này vẫn khá ổn định trong bối cảnh nguồn cung cá thịt trắng toàn cầu có nhiều biến động.

Điểm tin thủy sản thế giới ngày 11/9/2026

 |  18:57 11/09/2026

(vasep.com.vn) Thị trường thủy sản thế giới ngày 11/9/2026 tiếp tục ghi nhận nhiều biến động về giá nguyên liệu, nguồn cung và cạnh tranh thương mại. Giá tôm tại Mỹ giảm sâu khi Ecuador và Ấn Độ gia tăng sức ép nguồn cung, trong khi ngành tôm toàn cầu tiếp tục xu hướng tích hợp chuỗi. Giá cá ngừ vằn và cá minh thái duy trì ở mức cao do nguồn cung hạn chế, còn Trung Quốc đẩy mạnh mục tiêu phát triển sản lượng và công nghệ nuôi thủy sản. Bên cạnh đó, các thị trường lớn như Đức, Nhật Bản tiếp tục có những tín hiệu mới về nhu cầu tiêu thụ và nhập khẩu thủy sản.

VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM

Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội

Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO

Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu

Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông

Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn

Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh

Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn

VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội

Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn

© Copyright 2020 - Mọi hình thức sao chép phải được sự chấp thuận bằng văn bản của VASEP

DANH MỤC