Mặc dù là quốc gia nuôi trồng, sản xuất giống và XK nhiều cá tra nhất thế giới - loài cá cùng loại thịt trắng với cá rô phi, tuy nhiên với giống cá rô phi, Việt Nam chủ yếu đi NK từ các nước khác. Điều này làm tăng chi phí sản xuất và giảm tính chủ động của ngành.
Nhiều dòng cá rô phi đơn tính được NK và chọn nuôi thâm canh như GIFT (Genetically Improved Farmed Tilapia), cá rô phi Đường Nghiệp, cá rô phi Thái Lan, cá rô phi Genomar,... vì đã qua quá trình lai tạo chọn lọc, cho sức tăng trưởng nhanh, thịt thơm ngon và có thể XK. Những giống này được NK từ các quốc gia như Trung Quốc, Philippines, Na Uy, và Israel. Tuy nhiên, thông tin cụ thể về số lượng NK trong những năm gần đây không được công bố rộng rãi.
Chất lượng giống chưa đảm bảo: Nhiều cơ sở sản xuất giống trong nước chưa đáp ứng được tiêu chuẩn về chất lượng, dẫn đến tỷ lệ sống thấp và tăng trưởng chậm.
Phụ thuộc vào giống nhập khẩu: Các trại giống chưa đảm bảo sự đồng đều trong việc tạo giống mới hoặc cải tiến di truyền. Nếu dừng nhập khẩu, ngành sẽ bị động, đặc biệt trong bối cảnh biến động thương mại (như lệnh cấm của Brazil do TiLV). Trong khi đó, giống GIFT/GST có giá cao hơn giống thường 1,5 – 2 lần. Hộ nuôi nhỏ lẻ ngại đầu tư, dễ quay lại dùng giống trôi nổi, rẻ tiền, kém chất lượng.
Thoái hóa đàn cá bố mẹ: Chất lượng giống cá rô phi ở Việt Nam không cao khi có đến 70% đàn cá bố mẹ có dấu hiệu thoái hóa, tốc độ sinh trưởng chậm, đặc biệt là các giống chịu mặn. Nhiều trại giống không duy trì đúng quy trình chọn lọc, nên các thế hệ F2, F3 trở đi bị suy giảm di truyền, sinh trưởng kém hơn giống gốc. Tình trạng này ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng cá thương phẩm.
Thiếu hụt nguồn cung giống chất lượng cao: Ở miền Bắc, thường xuyên xảy ra tình trạng thiếu giống vào mùa đông, gây khó khăn cho việc duy trì và mở rộng sản xuất. Việc thiếu hụt này dẫn đến sự không đồng đều về chất lượng và số lượng cá giống cung cấp cho người nuôi.
Dịch bệnh và thiếu quy hoạch: Tình trạng thiếu quy hoạch trong nuôi cá rô phi, cùng với sự xuất hiện của nhiều dịch bệnh, đặc biệt trong nuôi lồng bè, đã gây ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất. Điều này làm giảm hiệu quả kinh tế và tăng rủi ro cho người nuôi.
Thách thức về tài chính và tín dụng: Ngành thủy sản, bao gồm nuôi cá rô phi, đang đối mặt với lãi suất vay vốn cao và hạn chế trong việc tiếp cận tín dụng. Điều này ảnh hưởng đến khả năng đầu tư vào cải thiện chất lượng giống và mở rộng sản xuất.
Nguyên nhân của những khó khăn
Hạn chế về công nghệ và nghiên cứu: Việc nghiên cứu và phát triển các giống cá rô phi chất lượng cao trong nước còn hạn chế, dẫn đến sự phụ thuộc vào nguồn giống NK.
Thiếu đầu tư và hỗ trợ: Ngành sản xuất giống chưa nhận được sự đầu tư và hỗ trợ đầy đủ từ chính phủ và các tổ chức liên quan, gây khó khăn trong việc nâng cao chất lượng và số lượng giống sản xuất nội địa.
Việt Nam kỳ vọng thúc đẩy sản lượng cá rô phi đạt 400.000 tấn vào năm 2030. Cá rô phi sẽ là loài cá nước ngọt XK thứ hai, giảm sự phụ thuộc vào XK cá tra. Để đạt được mục tiêu này, một số các giải pháp có thể được đề xuất như sau:
Đầu tư vào nghiên cứu và phát triển giống nội địa: Tăng cường nghiên cứu để tạo ra các giống cá rô phi chất lượng cao, phát triển các giống cá rô phi mới có năng suất và khả năng chống chịu bệnh tốt hơn, phù hợp với điều kiện nuôi trồng trong nước, giảm sự phụ thuộc vào NK.
Hỗ trợ tài chính và kỹ thuật: Chính phủ và các tổ chức nên cung cấp hỗ trợ về vốn và kỹ thuật cho các cơ sở sản xuất giống và hộ nuôi, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất.
Mở rộng ứng dụng công nghệ tiên tiến: Khuyến khích việc áp dụng các công nghệ nuôi tiên tiến như Biofloc để tăng năng suất, giảm thiểu ô nhiễm và dịch bệnh.
Quy hoạch vùng nuôi: Xây dựng và thực hiện các kế hoạch quy hoạch vùng nuôi hợp lý, giảm thiểu rủi ro về dịch bệnh và ô nhiễm môi trường.
Tăng cường kiểm soát chất lượng và dịch bệnh: Thiết lập hệ thống giám sát và kiểm soát chất lượng giống, đồng thời phòng chống dịch bệnh hiệu quả để đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành.
Xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường: Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại, tìm kiếm và mở rộng thị trường XK mới, đồng thời duy trì và củng cố các thị trường hiện có cho sản phẩm cá rô phi Việt Nam.
Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp trên sẽ giúp ngành nuôi cá rô phi Việt Nam phát triển bền vững, nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
(vasep.com.vn) Thị trường bạch tuộc trong hơn một năm qua gặp nhiều thách thức, với mức đánh bắt thấp liên tục và thuế quan là các vấn đề được thảo luận nhiều nhất. Bạch tuộc Tây Ban Nha được xem là sản phẩm cao cấp, dẫn đầu về chất lượng, trong khi bạch tuộc Indonesia và Philippines được coi là lựa chọn kinh tế, phù hợp với nhiều ứng dụng.
(vasep.com.vn) Sản lượng bột cá và dầu cá trong tháng 1/2026 giảm tại hầu hết các quốc gia được Tổ chức Bột cá và Dầu cá Thế giới (IFFO) giám sát, ngoại trừ khu vực Đan Mạch/Na Uy và Hoa Kỳ.
(vasep.com.vn) Ngành nuôi cá của Brazil đang bước vào giai đoạn quan trọng khi nỗ lực giảm sự phụ thuộc quá mức vào thị trường Mỹ, hiện tiêu thụ khoảng 92% xuất khẩu cá rô phi của nước này. Trước áp lực gia tăng từ rào cản thương mại và cạnh tranh toàn cầu, các nhà lãnh đạo ngành đang chuyển hướng chú ý sang Mỹ Latinh như một lựa chọn chiến lược để mở rộng.
(vasep.com.vn) Nhập khẩu tôm của Trung Quốc tăng mạnh trong hai tháng đầu năm 2026, chủ yếu do yếu tố mùa vụ liên quan đến Tết Nguyên đán. Tháng 1 đạt 94.707 tấn (+36% so với cùng kỳ), tháng 2 đạt 71.379 tấn (+15%), đưa tổng khối lượng nhập khẩu lên 166.086 tấn (+26%). Giá trị đạt 869 triệu USD (+18%), trong đó tháng 1 đạt 505 triệu USD và tháng 2 đạt 364 triệu USD.
(vasep.com.vn) Peru củng cố vị thế dẫn đầu toàn cầu trong quản lý bền vững tài nguyên thủy sinh sau khi nhận được đánh giá tích cực từ Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Báo cáo do Bộ Sản xuất (PRODUCE) công bố nhận định hệ thống quản lý thủy sản của Peru là “đẳng cấp thế giới”, nhấn mạnh nền tảng nghiên cứu khoa học và phân tích dữ liệu vững chắc.
(vasep.com.vn) Ngành thủy sản Grenada đã được nối lại xuất khẩu sang Mỹ sau khi NOAA Fisheries cấp chứng nhận tương thích theo Đạo luật Bảo vệ Động vật có vú biển (MMPA). Quyết định này cho phép ngư dân nước này tiếp tục hoạt động khai thác và đưa sản phẩm vào thị trường Mỹ từ năm 2026.
(vasep.com.vn) Quan chức Trung Quốc và Hàn Quốc đã gặp nhau tại Bắc Kinh ngày 19/3 nhằm củng cố quan hệ thương mại song phương trong bối cảnh kinh tế khu vực nhiều biến động. Theo tuyên bố từ hai phía, các bên khẳng định cam kết duy trì ổn định chuỗi cung ứng và tăng cường hợp tác kinh tế.
(vasep.com.vn) Cá ngừ vẫn là một trong những nguồn tài nguyên quý giá nhất của Fiji, tạo ra doanh thu hàng tỷ đô la trên toàn cầu, nhưng việc chế biến gia tăng giá trị còn hạn chế đang ngăn cản quốc gia này khai thác tối đa lợi ích kinh tế từ nó.
(vasep.com.vn) Trong bối cảnh thương mại thủy sản còn nhiều biến động, xuất khẩu cua của Việt Nam đã có khởi đầu năm 2026 khá tích cực. Theo số liệu thống kê của Hải quan Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu cua 2 tháng đầu năm 2026 đạt gần 55 triệu USD, tăng 24% so với cùng kỳ 2025 và cao gấp hơn 2,2 lần so với cùng kỳ 2024. Đây là tín hiệu cho thấy mặt hàng cua đang bước vào năm 2026 với nhịp tăng trưởng tốt hơn, nhất là tại các thị trường châu Á.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn