|
XK CÁC SẢN PHẨM HẢI SẢN KHAI THÁC CỦA VIỆT NAM, 2013 – 2017 (triệu USD) |
||||||
|
Sản phẩm |
2013 |
2014 |
2015 |
2016 |
2017 |
2018 |
|
Cá ngừ |
526,915 |
484,235 |
454,972 |
509,786 |
592,873 |
652,905 |
|
HS03 |
272,078 |
251,944 |
208,850 |
284,181 |
322,558 |
330,000 |
|
HS16 |
254,704 |
232,290 |
246,123 |
225,606 |
233,423 |
322,905 |
|
Mực, bạch tuộc |
409,573 |
483,296 |
429,194 |
439,045 |
620,819 |
672,308 |
|
NT2MV |
72,245 |
79,975 |
82,390 |
82,288 |
98,510 |
88,701 |
|
Cua, ghẹ, giáp xác khác |
110,542 |
131,213 |
121,478 |
124,534 |
117,668 |
134,257 |
|
Cá biển khác |
864,061 |
1.019,592 |
966,825 |
1.138,561 |
1.325,875 |
1.433,520 |
|
Tổng hải sản |
1.979,046 |
2.201,388 |
2.054,859 |
2.296,377 |
2.757,814 |
2,981,691 |
|
Tổng thủy-hải sản |
6.726,212 |
7.836,037 |
6.572,600 |
7.053,126 |
8.315,735 |
8.801,926 |
|
Tỷ trọng hải sản/thủy sản |
29,4 |
28,1 |
31,3 |
32,6 |
33,1 |
33,9 |
|
(Nguồn: Hải quan Việt Nam) |
||||||
Năm 2018, giá trị XK hải sản của Việt Nam đạt gần 3 tỷ USD, chiếm 34% tổng giá trị XK thủy sản của Việt Nam, tăng 8,2% so với năm 2017. Trong đó, cá ngừ và mực, bạch tuộc chiếm tỷ trọng cao nhất, tiếp đến là cá biển khác, cua ghẹ và nhuyễn thể hai mảnh vỏ.
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||
XK cá ngừ năm 2018 đạt 653 triệu USD, tăng 10% so với năm 2017. Mỹ, EU, ASEAN, Nhật Bản, Israel và Trung Quốc là 6 thị trường NK cá ngừ chính của Việt Nam. Đáng chú ý, năm 2018 XK cá ngừ của Việt Nam sang Mỹ, EU, Israel và ASEAN đều tăng so với năm 2017, lần lượt là 2%, 11%, 42% và 14%.
|
|
|
XK mực, bạch tuộc năm 2018 cũng tăng 8,3%, đạt 672 triệu USD. Trong số các thị trường, Hàn Quốc, Nhật Bản, EU, ASEAN, Trung Quốc và Mỹ lầ lượt là 6 thị trường XK mực, bạch tuộc lớn nhất của Việt Nam. Năm 2018, trong khi XK mực, bạch tuộc sang Hàn Quốc và Nhật Bản tăng lần lượt là 23% và 4%, XK sang EU giảm 22%.
|
|
|
Ngoài mực, bạch tuộc và cá ngừ, XK các mặt hàng hải sản khác như cá biển khác, cua ghẹ và giám xác đều tăng. Trong đó, XK cá biển khác đạt 1,43 triệu USD (bao gồm cả giá trị XK surimi - 324 triệu USD, tăng 8,1%. XK cua ghe và giáp xác khác đạt 134 triệu USD, tăng 14%.
Năm 2018, chỉ duy nhất nhóm hàng nhuyễn thể hai mảnh vỏ có sự sụt giảm về XK, giá trị XK đạt 89 triệu USD, giảm 10%.
|
|
|
Năm 2018, XK hải sản của Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn và thách thức.
Thứ nhất, việc bị thẻ vàng cảnh báo của EU vì những nỗ lực của Việt Nam chưa đủ để chống khai thác bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU) đã tác động làm giảm XK hải sản Việt Nam sang khối thị trường này. XK các sản phẩm hải sản sang EU đều giảm từ 4 – 20%, trừ XK cá ngừ. Giá trị XK cá ngừ năm 2018 tăng 11,5% so với năm 2017, tuy nhiên mức tăng trưởng này chỉ bằng ½ mức tăng trưởng của năm 2017 (23%).
Thứ hai, do sản lượng khai thác không đủ để đáp ứng nhu cầu chế biến XK, các DN hải sản của Việt Nam đang phải gia tăng NK nguyên liệu từ các nước. Năm 2018, NK hải sản của Việt Nam đạt 1,25 tỷ USD, tăng 34% so với năm 2017, chiếm 73% tổng NK thủy sản. Tuy nhiên, hiện tại khi NK hải sản về để chế biến XK DN đang gặp nhiều vướng mắc trong thủ tục xác nhận, chứng nhận thủy sản khai thác. Ngoài ra, ngành thủy sản Việt Nam đang còn rất nhiều bất cập và thiếu đồng bộ trong quy định và cơ sở hạ tầng, kỹ thuật.
|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Thứ 4, Chứng nhận An toàn cá heo của tổ chức EII. Hầu hết sản phẩm cá ngừ nếu không được cấp chứng nhận “An toàn cá heo” không được chấp nhận tại Mỹ, EU, Canada, Australia, New Zealand… Do đó, điều kiện tiên quyết khi tham gia vào ngành chế biến cá ngừ XK là phải tham dự chương trình “An toàn cá heo” của EII.
Bên cạnh đó, các sản phẩm hải sản sau thu hoạch của Việt Nam chất lượng thấp, do đó không đủ nguyên liệu để sản xuất XK, gây lãng phí nguồn lợi, dẫn đến việc lạm thác tăng.
Trước những thách thức đó, năm 2019 dự kiến XK hải sản sẽ vẫn tiếp tục tăng 17%, đạt 3,5 tỷ USD. Trong đó XK cá ngừ do còn dư địa để đẩy mạnh XK, như tăng nguồn cung nguyên liệu từ NK, đồng thời việc tận dụng cái lợi thế và thuế quan từ các Hiệp định thương mại đã được ký kết giữa Việt Nam và các nước, bên cạnh đó nâng cao chất lượng các sản phẩm để tăng khả năng cạnh tranh. Dự kiến giá trị XK cá ngừ sẽ đạt 1 tỷ USD, tăng 50% so với năm 2018.
Còn XK các mặt hàng hải sản khác sẽ duy trì ổn định hoặc tăng nhẹ. Cụ thể, XK cá biển khác đạt 1,5 tỷ USD, tăng 7%; XK mực, bạch tuộc đạt 750 triệu USD, tăng 8%; còn XK hải sản khác đạt 250 triệu USD.
Về phía thị trường, XK sang Nhật Bản dự kiến đạt 900 triệu USD, tăng 27%. Trong đó, tập trung các mặt hàng cá biển và surimi (các mặt hàng đang chiếm 70% XK hải sản sang thị trường này), đây là các mặt hàng đang có đà tăng mạnh (tăng 40% lên 675 triệu USD). Ngoài ra, đẩy mạnh sản xuất hàng giá trị gia tăng sang thị trường Nhật Bản.
XK sang Hàn Quốc dự kiến sẽ đạt 600 triệu USD, tăng 27%. Do, Việt Nam và Hàn Quốc đã ký hiệp định thương mại tự do, nên các DN sẽ tận dụng ưu đãi thuế quan từ FTA. Bên cạnh đó, tiếp tục đẩy mạnh XK tất cả các mặt hàng hải sản, Tăng cường XK mực bạch tuộc thêm 30% lên 350 triệu USD, cá biển khác tăng 20% lên 230 triệu USD.
XK sang Mỹ dự kiến đạt 480 triệu USD, tăng 10%. Trong đó, đẩy mạnh XK cá ngừ, tăng 20% lên 280 triệu USD (tập trung xuất cá loin, phile đông lạnh). Đồng thời, tăng XK cá biển thêm 15% lên 140 triệu USD, tiếp tục gia tăng XK mực, bạch tuộc và cua ghẹ.
XK sang EU dự kiến đạt 420 triệu USD, tăng 8%. Trong đó, tăng XK cá ngừ 25% lên 200 triệu USD. Ngoài ra, thực hiện tốt chứng nhận xác nhận hải sản khai thác, đẩy mạnh XK các mặt hàng khác như mực, bạch tuộc và cá biển. Bên cạnh đó, tập trung tháo gỡ thẻ vàng, và tận dụng ưu đãi thuế quan từ Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và EU (EVFTA) để tăng XK sang khối thị trường này.
XK sang ASEAN dự kiến đạt 480 triệu USD, tăng 18%. Trong đó, đẩy mạnh XK cá biển thêm 11% lên 300 triệu USD, tăng XK cá ngừ và mực bạch tuộc lên 60 triệu và 100 triệu USD.
Và để hoàn thành các mục tiêu này, cả ngành XK hải sản cần phải tập trung ưu tiên gỡ bỏ thẻ vàng. Trong đó, tiếp tục các giải pháp & kế hoạch cải thiện nhằm giải quyết vấn đề Thẻ vàng EU, DN & Bộ NN&PTNT tiếp tục cùng thực hiện các khuyến nghị của EU, tập trung làm tốt công tác hồ sơ C/C, từ đó nhanh chóng gỡ bỏ thẻ vàng IUU để tạo tâm lý tốt để các nhà NK yên tâm đặt hàng nhiều hơn.
DN phối hợp với ngư dân tham gia chuỗi sản xuất để đảm bảo chất lượng sau thu hoạch, nâng cao giá trị sản phẩm khai thác. Ngoài ra, DN nên gia tăng NK nguyên liệu hải sản hợp pháp để gia công/ chế biến XK theo hướng có chọn lọc đối tượng khách hàng nhằm đảm bảo đạt giá trị XK cao; chủ động mở rộng và đa dạng hóa thị trường, tránh phụ thuộc vào thị trường EU và một số thị trường chính khác; đẩy mạnh sản xuất hàng GTGT, hàng chất lượng cao để tăng giá trị. Bên cạnh đó, cần phải quan tâm XK sang các thị trường VN đã ký các FTA (Nhật Bản, EU, Hàn Quốc, các nước tham gia CPTPP), tận dụng tối đa ưu đãi thuế quan.
Còn về chương trình Giám sát an toàn cá heo của EII tại cảng cá: Bộ, TCTS và Cơ quan địa phương hỗ trợ và phối hợp cùng VASEP và các DN cá ngừ.
(Trích bài trình bày của Bà Nguyễn Thị Thu Sắc, Phó CT VASEP, Chủ tịch Ủy ban Hải sản VASEP tại “Hội nghị Triển khai kế hoạch XK Thủy sản năm 2019”)
Năm 2026, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp thủy sản Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu, tăng cường kết nối khách hàng và nâng cao hình ảnh ngành thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế, VASEP dự kiến tổ chức cụm gian hàng quốc gia Việt Nam tại nhiều triển lãm thủy sản và thực phẩm lớn tại Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Úc, Trung Quốc, Hàn Quốc và khu vực Mỹ Latinh. Chương trình tập trung vào các thị trường trọng điểm, kết hợp hình thức gian hàng chung và gian hàng riêng, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp quảng bá sản phẩm, tìm kiếm đối tác và cập nhật xu hướng thị trường.
(vasep.com.vn) Trong khi Itaipu Binacional khẳng định nuôi trồng thủy sản có thể song hành với sản xuất năng lượng và bảo vệ môi trường, nhiều nhà khoa học cảnh báo hoạt động này có thể làm gia tăng các rủi ro sinh thái, đặc biệt là sự lây lan của loài xâm lấn như trai vàng tại hồ chứa Itaipu.
(vasep.com.vn) Theo Food World, thị trường cá thịt trắng toàn cầu đang rơi vào trạng thái trì trệ khi giá nguyên liệu thô, đặc biệt là cá minh thái Nga, tiếp tục duy trì ở mức cao kỷ lục. Diễn biến này diễn ra song song với việc Nga đẩy mạnh quốc hữu hóa các tài sản trong ngành thủy sản, mở rộng từ khu vực Viễn Đông sang các vùng biển phía bắc.
(vasep.com.vn) Theo số liệu từ Tổ chức Dầu và Bột cá Thế giới (IFFO), sản lượng bột cá và dầu cá toàn cầu trong năm 2025 tăng trưởng ở mức khiêm tốn, nhờ hoạt động khai thác thuận lợi tại Peru và sản lượng cải thiện tại một số khu vực sản xuất chủ chốt.
(vasep.com.vn) Trước biến động thuế quan toàn cầu và tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu, Bộ Thủy sản Ấn Độ kêu gọi các bang, doanh nghiệp và người nuôi đẩy mạnh đa dạng hóa đối tượng nuôi, ứng dụng công nghệ mới nhằm giảm rủi ro dịch bệnh, nâng cao sức cạnh tranh và mở rộng thị trường xuất khẩu.
(vasep.com.vn) Năm 2025, thị trường cá tuyết đông lạnh tại Hàn Quốc đã trải qua những thay đổi bất ngờ, bất chấp sự sụt giảm về khối lượng nhập khẩu. Cụ thể, nước này chỉ nhập khẩu 5.693 tấn cá tuyết, giảm 8% so với năm trước. Tuy nhiên, chi phí nhập khẩu lại tăng mạnh—từ 19,12 triệu USD năm 2024 lên 29,63 triệu USD năm 2025, tăng 55%.
(vasep.com.vn) Theo báo cáo được công bố vào ngày 27/1/2026, ngư dân ở Biển Okhotsk đã đánh bắt được 76.100 tấn cá minh thái, chỉ chiếm 6,5% tổng sản lượng cho phép. So với cùng kỳ năm 2025, sản lượng đánh bắt cao hơn đáng kể—134.800 tấn, tăng 14,9%.
(vasep.com.vn) Bước sang 2026, một số sản phẩm chủ lực từ 12 nghề khai thác của Việt Nam tạm thời không được XK sang Hoa kỳ theo kết quả đánh giá tương đương của đạo luật MMPA. Một số SP hải sản khai thác khác được phép tiếp tục xuất khẩu là những cơ hội mà cộng đồng DN đang thực sự chắt chiu, sàng lọc từng cơ hội. Tuy nhiên, từ 01/01/2026 tới nay là đã 1 tháng, việc cấp giấy COA cho các sản phẩm hải sản khai thác kể trên XK sang Hoa Kỳ gặp nhiều bất cập, vướng mắc, không đủ điều kiện hoặc kéo dài với những thủ tục hành chính phát sinh khiến cho việc xuất khẩu các SP này bị đình trệ và ách tắc không nhỏ.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường kiến nghị Thủ tướng, Phó thủ tướng giao Bộ Y tế là cơ quan đầu mối phối hợp các bộ, ngành có liên quan rà soát, sửa đổi ngay Nghị định 46 đảm bảo tính khả thi.
(vasep.com.vn) Năm 2025, xuất khẩu cua của Na Uy ghi nhận tăng trưởng mạnh, đặc biệt ở nhóm sản phẩm cua hoàng đế đông lạnh và cua tuyết. Tổng lượng xuất khẩu cua hoàng đế của Na Uy đạt 1.844 tấn, trị giá 112,5 triệu USD. So với năm 2024, khối lượng tăng 24%, trong khi giá trị tăng thêm 35,3 triệu USD, tương đương mức tăng 46%, cao hơn cả năm 2023 khoảng 562.000 USD.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn