Quy định về nước thải chế biến thủy sản xả vào hệ thống thu gom của nhà máy xử lý nước thải tập trung, theo VASEP, khoản 1.2.2 của dự thảo cần được cụ thể như sau: “Nước thải chế biến thủy sản xả vào hệ thống thu gom của nhà máy xử lý nước thải tập trung dựa trên nguyên tắc thỏa thuận giữa doanh nghiệp trong khu công nghiệp/khu chế xuất về quy chuẩn áp dụng và bảo đảm tuân thủ các quy định về luật môi trường”.
Quy định như đề xuất trên cho phép thỏa thuận giữa DN trong KCN và công ty hạ tầng KCN sẽ tạo điều kiện để các DN và Công ty phát triển hạ tầng KCN đàm phán để có cơ chế, phí và điều kiện xả thải phù hợp giữa hai bên, đảm bảo chính sách khuyến khích của Nhà nước thúc đẩy các Nhà máy di dời vào các KCN. Còn như nội dung dự thảo hiện nay có thể tạo ra sự áp đặt cho DN và thể hiện sự đối xử chưa công bằng giữa các Nhà máy thủy sản nằm trong KCN và ngoài KCN.
Còn về “Giá trị C làm cơ sở tính toán giá trị tối đa cho phép của các thông số ô nhiễm”, trong đó VASEP đề nghị bỏ quy định về chỉ tiêu Phospho do một số nước lân cận Việt Nam như Indonesia, Malaysia, Thái Lan cũng đang không quy định chỉ tiêu này trong nước thải công nghiệp.
Quy định mức Phospho như dự thảo sẽ gây thêm khó khăn cho DN, làm giảm sức cạnh tranh của hàng thủy sản Việt Nam so với các quốc gia XK thủy sản mạnh trong khu vực như Indonesia, Malaysia, Thái Lan
Trong thực tế, hầu hết các nhà máy chế biến xuất khẩu thủy sản đều có sử dụng phụ gia Phốt phát trong quá trình sản xuất, nên lượng Phospho trong nước thải tăng lên, nên sau khi xử lý thường vượt cao hơn so với yêu cầu 20 - 30 mg/l. Ngay cả với mức quy định hiện nay, nhiều thời điểm hoặc tùy mặt hàng, các DN cũng không thể đạt được mức quy định hiện hành. Nếu Dự thảo hạ mức quy định xuống thấp hơn (đối với cơ sở mới xây dựng) và giữ nguyên mức (đối với cơ sở đang hoạt động) thì các DN khó có thể đạt được. Hiện nay, Việt Nam chưa có các công nghệ có tính khả thi và hiệu quả để xử lý chỉ tiêu Phospho trong nước thải của các sản phẩm đòi hỏi sử dụng nhiều phosphat (ví dụ như sản phẩm xuất khẩu sang Hoa Kỳ).
Với thông số Amoni và tổng Nitơ, VASEP đề xuất hai phương án:
Phương án 1: Nới lỏng hai thống số Amoni và tổng Nitơ bằng với hai thống số Amoni và tổng Nitơ mà Thái Lan hoặc Nhật Bản đang áp dụng cho các nhà máy chế biến thủy sản.
Phương án 2: Giữ nguyên mức cho phép của hai thông số Amoni và Tổng Nitơ như trong QCVN 11-MT:2015/BTNMT
VASEP xem xét dựa trên những lý do sau:
Thực trạng hai thông số Amoni và Tổng Nitơ của quy chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT:
Hiện nay, giới hạn của hai thông số Amoni, tổng Nito trong QCVN 40:2011/BTNMT đang cao hơn một số nước trên thế giới như Thái Lan, Nhật Bản, đang làm cho các trạm xử lý của các KCN gặp vô cùng khó khăn trong việc xử lý đạt Amoni và tổng Nitơ. Thực trạng là hầu hết các trạm xử lý nước thải của các KCN có đạt hai thông số này nhưng không phải đạt trong mọi thời điểm, đặc biệt là chỉ tiêu Amoni và đó là lý do tại sao các KCN khắp cả nước chần chừ trong việc lắp đặt trạm quan trắc tự động cho dù quy định bắt buộc.
Mặt khác, tổng Nitơ cao hơn các nước khác đang gây khó khăn cho các KCN trong việc xử lý đạt quy chuẩn và cũng vì lý do đó các KCN có phí vận hành KCN rất cao và có một số KCN lấy phí xử lý nước thải rất cao, đơn giá xử lý có khi lên 25,000VND/m3 và như vậy làm giảm sức cạnh trạng của các KCN của nước ta so với các nước khác.
Nước thải đầu vào của các KCN thường có độ ô nhiễm thấp (vì nước thải phải được xử lý cấp 1 tại các Nhà máy trong KCN trước khi đấu nối vào hệ thống xử lý của KCN) mà còn gặp khó khăn trong việc xử lý đạt thông số Amoni, tổng Nitơ. Nên đối với các doanh nghiệp thủy sản đa số là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nguồn nước thải rất giàu Nitơ và Amoni thì việc xử lý Nitơ và Amoni khó khăn và cực kỳ tốn kém.
Thực trạng về doanh nghiệp chế biến thủy sản hiện nay của Việt Nam:
Thực trạng của các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản hiện nay là các doanh nghiệp vừa, nhỏ và rất nhỏ và cũng mới hình thành hơn 10 năm gần đây (so với Nhật Bản đã hình thành cả thế kỷ), công nghệ chế biến còn thủ công, bán thủ công, đồng vốn ít ỏi, các nhà máy chiếm đa phần là sơ chế và lượng nước thải thì không quá lớn mà đòi hỏi đáp ứng quy chuẩn môi trường quá cao (cao hơn nước tiên tiến như Nhật Bản;..). Việc nâng Amoni từ 20mg/l lên 10mg/l và Tổng Nitơ từ 60mg/l lên 40mg/l cần phải xem xét nguồn tiếp nhận (ao hồ, sông hay suối;..) và cũng phải dựa trên lưu lượng xả thải và các công ty thủy sản lưu lượng xả thải không thể bằng các KCN.
Thực trạng về công nghệ xử lý nước thải của các doanh nghiệp thủy sản:
Công nghệ xử lý Nitơ và Amoni hiện nay chỉ có con đường duy nhất là bằng phương pháp sinh học (Quá trình chuyển hóa Amoni và Nitơ qua các bước: NH4–> NO3- ; NO3- –> NO2- –>NO –> N2O –> N2 ); Công đoạn hóa lý không làm giảm được Amoni, trong công đoạn hóa lý Nitơ có giảm một phần rất nhỏ (khoảng 5%-7%) và Nitơ giảm là Nitơ dưới dạng vật chất không hòa tan.
Quá trình sinh học thì không thể như hóa học, nó lệ thuộc vào sự sống và phát triển của hệ vi sinh vật trong hệ thống xử lý nước thải và sinh học luôn có khoảng giao động nhất định cho dù điều kiện dinh dưỡng có lý tưởng (pH, Nhiệt độ, các dinh dưỡng khác;,..), hệ vi sinh vật trong các bể xử lý sinh học luôn có những trạng thái tạm gọi “khỏe, trung bình, yếu” trong bất kỳ hệ thống xử lý nước thải nào và khi ở trạng thái trung bình hoặc yếu thì Amoni không thể đạt 10mg/l và Nitơ không thể đạt 40mg/l.
Điều này là chắc chắn bởi vì nước thải đầu vào của các nhá máy chế biến thủy sản Việt Nam sản xuất sản phẩm tinh chế có Amoni thường từ 50-100mg/l; Tổng Nitơ thường từ 200-400mg/l; nước thải đầu vào của các nhá máy chế biến thủy sản Việt Nam sản xuất sản phẩm sơ chế có Amoni: 80-120mg/l; Tổng Nitơ: 250-500mg/l và chưa có hệ thống xử lý sinh học nào cho thấy đạt hiệu quả xử lý Amoni và Nitơ trên 80% (chi tiết xin xem Phụ lục gửi kèm).
Các thông số môi trường của Dự thảo Quy chuẩn 11-MT:2017/BTNMT đang cao hơn so với thông số môi trường tương đương của Nhật Bản, Thái Lan
Dự thảo quy chuẩn này nếu được chấp nhận và đưa vào áp dụng, nó sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của ngành thủy sản, gây quá nhiều khó khăn không cần thiết, làm giảm sức cạnh tranh so với các nước lân cận như Thái Lan, Indonesia;...
So sánh hai thông số Tổng Nitơ và Amoni của dự thảo QCVN 11-MT:2017/BTNMT và với các quy chuẩn nước thải công nghiệp nước gần Việt Nam
Bảng 1: So sánh các thông số môi trường của của Dự thảo Quy chuẩn 11-MT:2017/BTNMT với thông số môi trường tương đương của Nhật Bản, Thái Lan
|
Stt |
Thông số |
Đơn vị |
Giá trị C trong điều kiện tương dương |
||
|
Việt Nam |
Nhật Bản |
Thái Lan |
|||
|
1 |
pH |
_ |
5,5-9 |
5-9 |
5.5-9 |
|
2 |
BOD5 ở 20oC |
mg/l |
50 |
160 |
20 |
|
3 |
COD |
mg/l |
150 |
160 |
120 |
|
4 |
Tổng chất rắn lơ lửng |
mg/l |
100 |
50 |
50 |
|
5 |
Amoni (tính theo N) |
mg/l |
10 |
120 (Nitơ và Amoni) |
100 (Nitơ và Amoni) |
|
6 |
Tổng Nitơ |
mg/l |
40 |
||
|
7 |
Tổng phốt pho (tính theo P) |
mg/l |
20 |
16 |
Không quy định |
|
8 |
Tổng dầu mỡ |
mg/l |
20 |
30 |
15 |
|
9 |
Clo dư |
mg/l |
2 |
2 |
1 |
|
10 |
Tổng Coliform |
MPN/100ml |
5,000/100ml |
3,000/cm3 |
Không quy định |
Tạ Hà - Hoàng Yến
(vasep.com.vn) Thị trường thủy sản thế giới ngày 16/9 ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý về nguồn cung, giá nguyên liệu và thương mại. Trung Quốc thiếu tôm nguyên liệu, trong khi Ấn Độ đối mặt nguy cơ giảm thả nuôi; Philippines mở đợt nhập khẩu thủy sản quy mô lớn trước mùa cấm khai thác. Bên cạnh đó, giá bột cá Peru tăng mạnh, nguồn cá hồi tự nhiên Nga tiếp tục suy giảm và nhập khẩu thăn cá ngừ vào EU tăng đáng kể. Việt Nam cũng kết thúc tháng cao điểm chống khai thác IUU, chuẩn bị tổng hợp kết quả báo cáo Ủy ban châu Âu trước ngày 1/10.
(vasep.com.vn) Quy tắc xuất xứ, yêu cầu chống khai thác IUU và những thay đổi trong chính sách tiếp cận thị trường EU đang trở thành những vấn đề nổi bật tại Hội nghị Cá ngừ Thế giới INFOFISH TUNA 2026 diễn ra tại Bangkok, Thái Lan từ ngày 14–16/9/2026.
(vasep.com.vn) Nguồn cung cá thịt trắng tự nhiên suy giảm đang đẩy giá cá tuyết (cod) tại Anh lên cao, buộc ngành fish and chips tìm kiếm các loài thay thế. Theo dữ liệu từ Circana, lượng khách đến các cửa hàng fish and chips tại Anh giảm 9% so với cùng kỳ, trong khi khẩu phần trung bình giảm 13%.
(vasep.com.vn) Mỹ đang đối mặt với nhu cầu yếu; nhập khẩu kỷ lục của Trung Quốc tăng nhanh hơn tiêu dùng; châu Âu ngày càng chú trọng đúng sản phẩm và kênh bán hàng; trong khi Nhật Bản tiếp tục ưu tiên các sản phẩm chế biến phù hợp từng phân khúc. Khi nguồn cung tôm toàn cầu tiếp tục tăng, việc chỉ sản xuất nhiều hơn có thể không còn đủ để bảo đảm tăng trưởng.
(vasep.com.vn) Con số 82% giá trị cá minh thái khai thác tại vùng biển Alaska được đưa ra khỏi bang đang thu hút sự chú ý, nhưng theo phân tích kinh tế năm 2023 của Northern Economics, tỷ lệ này chưa phản ánh đầy đủ lợi ích mà ngành cá minh thái mang lại cho Alaska, đặc biệt trong khâu chế biến surimi.
(vasep.com.vn) Năm 2026 đang trở thành một năm nhiều thách thức đối với xuất khẩu cá tra Việt Nam sang Hoa Kỳ. Trong khi xuất khẩu cá tra sang một số thị trường vẫn duy trì tăng trưởng, thị trường Hoa Kỳ lại suy giảm rõ rệt. Tám tháng đầu năm, xuất khẩu cá tra sang Hoa Kỳ giảm gần 14% so với cùng kỳ, riêng tháng 8 giảm trên 50%.
(vasep.com.vn) Trong tuần 36 (31/8–6/9), giá nguyên liệu cá rô phi tại Trung Quốc giao đến các nhà máy chế biến duy trì ổn định. Giá cá cỡ 500–800 g tại Quảng Đông, Quảng Tây và Hải Nam không thay đổi so với tuần trước. Dù thuế nhập khẩu cá rô phi phi lê Trung Quốc vào Mỹ hiện giảm xuống 37,5%, từ mức 45% của năm trước, thị trường xuất khẩu vẫn chưa phục hồi rõ rệt.
(vasep.com.vn) Một đợt El Niño có khả năng đạt cường độ cực mạnh trong lịch sử đang hình thành, làm gia tăng rủi ro đối với hoạt động khai thác thủy sản trên toàn cầu. Theo phân tích của Trung tâm Dự báo Khí hậu thuộc Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Mỹ (NOAA) công bố tháng 8, nhiệt độ mặt nước biển tại khu vực xích đạo trung và đông Thái Bình Dương tiếp tục tăng, với khả năng hiện tượng này đạt đỉnh vào khoảng tháng 11–12/2026. Ngày 3/9, Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) xác nhận El Niño đã hình thành và dự báo hiện tượng này có thể kéo dài đến tháng 2/2027.
(vasep.com.vn) Bộ Nông nghiệp Nga mới phê duyệt tổng sản lượng khai thác cho phép (TAC) đối với cá minh thái tại vùng Viễn Đông ở mức 2,356 triệu tấn năm 2027, giảm 66.200 tấn (khoảng 2,7%) so với khoảng 2,42 triệu tấn năm 2026. Việc cắt giảm chủ yếu tập trung tại các ngư trường truyền thống lớn như phía Bắc biển Okhotsk, Tây Kamchatka và quần đảo Kamchatka-Kuril, trong khi một số khu vực có dấu hiệu phục hồi nguồn lợi được tăng hạn ngạch.
(vasep.com.vn) Bản tin Logistics và Vận tải biển VASEP tuần 8–14/9/2026 cho thấy cước vận tải container từ Việt Nam nhìn chung ổn định nhưng tiếp tục phân hóa mạnh giữa các tuyến. Chỉ số VCFI tổng hợp đạt 4.912 USD/FEU, tăng 0,06% so với tuần trước đó.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn