Hiện NK mực, bạch tuộc vào Mỹ cũng đang giảm. 7 tháng đầu năm nay, NK các sản phẩm mực, bạch tuộc vào Mỹ đều giảm so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, do sản lượng khai thác mực, bạch tuộc tại các vùng biển thấp đã đẩy giá lên cao nên xét về giá trị NK vẫn cao hơn so với cùng kỳ. Cụ thể, tổng khối lượng NK mực, bạch tuộc của Mỹ trong 7 tháng đầu năm đạt gần 27 nghìn tấn, trị giá 183 triệu USD, giảm 14% về khối lượng nhưng tăng 2,6% về giá trị.
Trong đó, các sản phẩm mực chiếm tỷ trọng cao nhất. Đặc biệt, mực đông lạnh, hun khói và ướp muối chiếm hơn 56% tổng khối lượng NK. Tiếp đến là các sản phẩm mực chế biến và bạch tuộc đông lạnh, hung khói, ướp muối.
|
SẢN PHẨM MỰC, BẠCH TUỘC NK VÀO MỸ |
||||||
|
Sản phẩm |
Khối lượng (kg) |
Giá trị (nghìn USD) |
||||
|
T1-7/2017 |
T1-7/2018 |
Tăng giảm (%) |
T1-7/2017 |
T1-7/2018 |
Tăng giảm (%) |
|
|
Mực đông lạnh/hun khói/ướp muối.. |
18.960.175 |
15.095.892 |
-20,4 |
89.617 |
75.904 |
-15,3 |
|
Mực chế biến |
5.542.641 |
5.253.791 |
-5,2 |
33.468 |
35.850 |
7,1 |
|
Bạch tuộc đông lạnh/khô/muối/ngâm muối |
4.925.456 |
4.878.638 |
-1,0 |
38.543 |
51.290 |
33,1 |
|
Bạch tuộc chế biến |
1.776.682 |
1.691.122 |
-4,8 |
16.460 |
19.995 |
21,5 |
|
Bạch tuộc tươi/sống/ướp lạnh |
36.729 |
105 |
-99,7 |
311 |
8 |
-97,4 |
|
Tổng cộng |
31.241.683 |
26.919.548 |
-13,8 |
178.399 |
183.047 |
2,6 |
|
(Nguồn: ITC) |
||||||
Mỹ đang NK mực, bạch tuộc từ hơn 30 nước trên thế giới. Trong đó, Việt Nam hiện đang là 1 trong 10 nguồn cung lớn nhất cho thị trường này, tuy nhiên thị phần rất nhỏ, gần 2%. giá trung bình NK của Mỹ từ Việt Nam vẫn cao hơn một số nước khác như: Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan và Indonesia. Điều này cho thấy, các sản phẩm mực, bạch tuộc của Việt Nam đang gặp khó khi cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của các nước khác tại Mỹ. Tuy nhiên, điều đáng mừng là trong khi XK của các nước như Trung Quốc, Ấn Độ và Thái Lan sang Mỹ giảm, XK của Việt Nam lại đang tăng.
|
NHẬP KHẨU MỰC, BẠCH TUỘC VÀO MỸ |
||||||
|
Nguồn cung |
Khối lượng (kg) |
Giá trị (nghìn USD) |
||||
|
T1-7/2017 |
T1-7/2018 |
Tăng giảm (%) |
T1-7/2017 |
T1-7/2018 |
Tăng giảm (%) |
|
|
Trung Quốc |
13.572.917 |
12.003.130 |
-11,6 |
69.300 |
60.361 |
-12,9 |
|
Tây Ban Nha |
4.590.806 |
4.519.964 |
-1,5 |
37.273 |
51.073 |
37,0 |
|
Đài Loan |
3.236.878 |
1.632.935 |
-49,6 |
13.183 |
8.835 |
-33,0 |
|
Ấn Độ |
1.783.763 |
1.378.266 |
-22,7 |
9.456 |
7.087 |
-25,1 |
|
New Zealand |
795.194 |
1.000.793 |
25,9 |
2.946 |
4.433 |
50,5 |
|
Thái Lan |
1.025.455 |
970.474 |
-5,4 |
8.874 |
8.163 |
-8,0 |
|
Indonesia |
843.329 |
880.905 |
4,5 |
5.339 |
6.445 |
20,7 |
|
Peru |
975.423 |
745.600 |
-23,6 |
3.730 |
3.969 |
6,4 |
|
Nhật Bản |
659.872 |
652.499 |
-1,1 |
8.953 |
10.355 |
15,7 |
|
Việt Nam |
361.195 |
539.987 |
49,5 |
2.696 |
3.612 |
34,0 |
|
Các nguồn cung khác |
3.396.851 |
2.594.995 |
-30,9 |
16.649 |
18.714 |
12,4 |
|
Tổng cộng |
31.241.683 |
26.919.548 |
-13,8 |
178.399 |
183.047 |
2,6 |
|
(Nguồn: ITC) |
||||||
(vasep.com.vn) Đức đang đẩy mạnh chiến lược phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng công nghệ cao và bền vững nhằm giảm phụ thuộc vào nhập khẩu thủy sản, đồng thời tăng khả năng tự chủ nguồn cung thực phẩm. Hiện nay, sản lượng nuôi trồng thủy sản nội địa của Đức chỉ đáp ứng chưa đến 3% nhu cầu tiêu thụ cá trong nước, khiến quốc gia này phụ thuộc lớn vào nguồn cung nhập khẩu.
(vasep.com.vn) Sản lượng bột cá và dầu cá toàn cầu trong quý I/2026 đồng loạt giảm mạnh so với cùng kỳ năm ngoái do nguồn cung nguyên liệu suy yếu và hoạt động khai thác bị siết chặt tại nhiều khu vực sản xuất chủ lực.
(vasep.com.vn) Ngành cá tuyết Na Uy đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn cung nghiêm trọng, khiến sản lượng xuất khẩu giảm xuống mức thấp nhất trong 17 năm, trong khi giá bán tăng mạnh trên toàn thị trường.
(vasep.com.vn) Xuất khẩu tôm Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026 tiếp tục giữ được đà tăng trưởng dương với kim ngạch đạt khoảng 1,5 tỷ USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, đằng sau kết quả này là xu hướng trái chiều giữa các thị trường giữa các thị trường, trong bối cảnh ngành tôm toàn cầu vẫn chịu tác động từ lạm phát, tồn kho cao, cạnh tranh giá và rủi ro thương mại gia tăng.
(vasep.com.vn) Một cuộc khảo sát do Điều phối Hỗ trợ Kỹ thuật Tích hợp (CATI) thực hiện đã ghi nhận 1.462 cơ sở nuôi trồng thủy sản phân bố tại 371 thành phố thuộc bang São Paulo, Brazil.
(vasep.com.vn) Theo Liên đoàn Thủy sản Myanmar, các sản phẩm thủy sản của nước này hiện được xuất khẩu tới 42 quốc gia, trong đó hải sản chiếm 70% và sản phẩm thủy sản nước ngọt chiếm 30% tổng kim ngạch xuất khẩu.
(vasep.com.vn) Sản lượng khai thác hải sản của Nga trong bốn tháng đầu năm 2026 tiếp tục giảm so với cùng kỳ năm ngoái, trong bối cảnh nguồn cung cá thịt trắng như cá minh thái và cá tuyết tại khu vực Viễn Đông suy giảm, kéo theo giá nguyên liệu trên thị trường nội địa tăng mạnh.
(vasep.com.vn) Doanh nghiệp ExportGaGroup có trụ sở tại thành phố Guayaquil (Ecuador) đang đẩy mạnh mở rộng thị trường xuất khẩu tôm chân trắng Ecuador thông qua các thương hiệu riêng, sau hơn 20 năm hoạt động trong lĩnh vực nuôi tôm.
(vasep.com.vn) Hội đồng Quản lý Nuôi trồng Thủy sản (ASC) vừa xác nhận Venezuela đã có hai nhà máy thức ăn thủy sản đầu tiên đạt chứng nhận theo chương trình ASC Feed Certification, đánh dấu bước tiến mới của ngành thức ăn thủy sản bền vững tại khu vực Mỹ Latinh.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn