Theo China Business Inteligent Network, trong những năm gần đây, ngành thủy sản Trung Quốc phát triển nhanh chóng và hiện đã trở thành nước sản xuất thủy sản lớn của thế giới, tổng sản lượng thủy sản đứng vào hàng đầu thế giới. Nhìn chung, sản lượng thủy sản biển của Trung Quốc ổn định, cùng với việc không ngừng nâng cao thế mạnh toàn diện của nghề cá biển sâu, Trung Quốc đã trở thành một trong những quốc gia có ngành thủy sản quan trọng trên thế giới. Với sự phát triển của ngành ngư nghiệp, ngành chế biến thuỷ sản Trung Quốc cũng phát triển và mở rộng.
Sản xuất
Theo thống kê, từ năm 2017 đến năm 2020, tổng sản lượng thủy sản của Trung Quốc tăng từ 64,45 triệu tấn lên 65,49 triệu tấn, một mức tăng trưởng ổn định. Viện Nghiên cứu Công nghiệp Thương mại Trung Quốc dự đoán sản lượng thủy sản của Trung Quốc sẽ đạt 65,75 triệu tấn vào năm 2021 và 66,12 triệu tấn vào năm 2022.
Các nguồn thủy sản chính ở Trung Quốc bao gồm nuôi trồng thủy sản nước ngọt, nuôi biển và khai thác hải sản. Năm 2019, sản lượng thủy sản nuôi nước ngọt của Trung Quốc chiếm 47% tổng sản lượng thủy sản; nuôi trồng biển và đánh bắt hải sản lần lượt chiếm 32% và 15%.
Hiện một nửa sản lượng thủy sản của Trung Quốc là hải sản. Năm 2020, sản lượng hải sản cả nước đạt 33,144 triệu tấn, tăng gần 1% so với 2019, trong đó sản lượng khai thác hải sản tự nhiên đạt 11,791 triệu tấn, chiếm 35,6%; sản lượng nuôi biển đạt 21,353 triệu tấn, chiếm 64,4%. Viện Nghiên cứu Công nghiệp Thương mại Trung Quốc dự đoán sản lượng hải sản của Trung Quốc sẽ đạt 33 triệu tấn vào năm 2021 và 32,99 triệu tấn vào năm 2022.
Sản lượng thủy sản của Trung Quốc chủ yếu là nuôi trồng. Sản lượng nuôi trồng vẫn tăng trưởng ổn định,
đến năm 2020 sản lượng thủy sản nuôi cả nước đạt 52,12 triệu tấn, tăng 3% so với 2019. Viện Nghiên cứu Công nghiệp Thương mại Trung Quốc dự đoán sản lượng nuôi trồng thủy sản của Trung Quốc sẽ đạt 52,2 triệu tấn vào năm 2021 và 52,74 triệu tấn vào năm 2022.
Số liệu cho thấy trong năm 2019, sản lượng nuôi biển của Trung Quốc chủ yếu tập trung vào động vật có vỏ, đạt sản lượng 14,39 triệu tấn, chiếm 70%; tiếp theo là tảo, đạt 2,538 triệu tấn, chiếm 12%. Năm 2019, sản lượng nuôi trồng thủy sản nước ngọt của Trung Quốc chủ yếu là cá, đạt sản lượng 25,48 triệu tấn, chiếm 83%.
Hiện tại, các công ty lớn trong ngành nuôi trồng thủy sản của Trung Quốc gồm Haodangjia, ST Donghai, Zhangzidao, Dahu, ST Changyu, Baiyang, Guolian Aquatic Products và Tianma Technology.
Theo số liệu từ “Niên giám thống kê nghề cá Trung Quốc 2020”, năm 2019, chi phí thức ăn và con giống là những khoản chi phí chính, chiếm 54,31%. Do đó, thức ăn và con giống đã trở thành nguồn cung cấp lớn nhất cho ngành nuôi trồng thủy sản.
Theo "Tình hình sản xuất thức ăn chăn nuôi quốc gia" do Hiệp hội Công nghiệp thức ăn chăn nuôi Trung Quốc công bố ngày 12/6/2021, quy mô sản xuất thức ăn thủy sản ở Trung Quốc có xu hướng tăng trong những năm gần đây, từ 16,84 triệu tấn năm 2011 lên 21,236 triệu tấn vào năm 2020. Tốc độ tăng trưởng kép hàng năm đạt 2,61%. Trong 9 tháng đầu năm năm 2021, lũy kế sản lượng thức ăn thủy sản của TQ là 19,68 triệu tấn, tăng 13,2% so với cùng kỳ năm ngoái.
Kể từ năm 2020, dịch Covid hành trên toàn thế giới, nguồn cung nguyên liệu thuỷ sản, vận chuyển và tiêu thụ đã bị gián đoạn; cùng với tác động của sự bùng phát dịch bệnh trên cá ở Giang Tô, Chiết Giang và những nơi khác, và nhu cầu về thức ăn ít hơn nhiều so với trước đây khi sản lượng giảm.
Tính đến tháng 5/2021, các thành phần tham gia vào ngành nuôi trồng thủy sản của Trung Quốc chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chiếm hơn 90%. Nhìn chung, các doanh nghiệp trong ngành nuôi trồng thủy sản tương đối phân tán, rào cản ngành tương đối thấp, dẫn đến số lượng doanh nghiệp trong ngành lớn và cạnh tranh gay gắt. Nuôi biển chủ yếu ở Sơn Đông, Liêu Ninh, Quảng Đông và những nơi khác; trong khi nuôi trồng thủy sản nước ngọt đa số ở Hồ Nam và Hồ Bắc.
Trong "Kế hoạch 5 năm lần thứ 14", Trung Quốc sẽ tối ưu hóa việc bố trí nuôi trồng thủy sản xanh ngoài khơi, xây dựng đồng cỏ biển và phát triển nghề cá nổi bền vững. Các tỉnh, thành phố ven biển đang tích cực phát triển nghề cá biển hiện đại: Sơn Đông, Phúc Kiến, Quảng Đông, Liêu Ninh, Hải Nam, Cát Lâm, Giang Tô, Chiết Giang và Quảng Tây đều đề xuất nuôi biển hiện đại và thúc đẩy xây dựng đồng cỏ xanh trên biển.
Trong tương lai, giá trị sản lượng của ngành nuôi trồng thủy sản Trung Quốc từ năm 2021 đến năm 2026 sẽ tăng với tốc độ CAGR khoảng 4% lên khoảng 1,3 nghìn tỷ NDT vào năm 2026.
Chế biến
Sản lượng chế biến thủy sản của Trung Quốc từ năm 2017 đến năm 2020 tăng từ 21,963 triệu tấn lên 22,378 triệu tấn. Năm 2020, sản lượng chế biến thủy sản của Trung Quốc chỉ đạt 34,17% tổng sản lượng thủy sản, và ngành chế biến thủy sản có thị trường rộng lớn. Viện Nghiên cứu Công nghiệp Thương mại Trung Quốc dự đoán sản lượng chế biến thủy sản của Trung Quốc sẽ đạt 22,719 triệu tấn vào năm 2021 và 23,059 triệu tấn vào năm 2022.
Các sản phẩm thủy sản chế biến của Trung Quốc chủ yếu là các sản phẩm đông lạnh; năm 2019, khối lượng chế biến các sản phẩm thủy sản đông lạnh là 15,323 triệu tấn, chiếm 71%; tiếp theo là các sản phẩm muối/khô, chiếm 1,521 triệu tấn, chiếm 7%, surimi chiếm 7%, rong biển 5%, chế biến, dầu cá…
Tiêu thụ
Với sự phát triển nhanh chóng của thương mại điện tử hàng nông sản, các kênh phân phối hàng thủy sản tiếp tục được mở rộng, thúc đẩy tăng trưởng tiêu thụ. Trong những năm gần đây, mức tiêu thụ thủy sản của Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng, năm 2017, mức tiêu thụ thủy sản của Trung Quốc là 65,01 triệu tấn, đến năm 2020, mức tiêu thụ thủy sản đạt 68,53 triệu tấn, tăng 3,32 triệu tấn, tăng 5,1%. Viện Nghiên cứu Công nghiệp Thương mại Trung Quốc dự đoán mức tiêu thụ thủy sản của Trung Quốc sẽ đạt 69,61 triệu tấn vào năm 2021 và 70,89 triệu tấn vào năm 2022.
Là nước sản xuất thủy sản lớn, sản lượng bình quân đầu người năm 2019 của Trung Quốc đạt 46kg, nhưng lượng thủy sản tiêu thụ của Trung Quốc rất nhỏ, năm 2019, mức tiêu thụ thuỷ sản bình quân đầu người chỉ đạt 13,6kg trong khi mức tiêu thụ thịt lợn bình quân đầu người đạt 20,3 kg.
Ngoài ra, chênh lệch về mức tiêu thụ thủy sản bình quân đầu người của người dân thành thị và nông thôn ở Trung Quốc cũng rất rõ ràng. Năm 2019, mức tiêu thụ thuỷ sản của cư dân thành thị là 16,7 kg, trong khi mức tiêu thụ thủy sản bình quân đầu người của người dân nông thôn là 9,6 kg, chênh lệch gần 7,1 kg. Viện Nghiên cứu Công nghiệp Thương mại Trung Quốc dự đoán mức tiêu thụ thủy sản bình quân đầu người của người dân Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng lên 14,25 kg vào năm 2021 và 14,9 kg vào năm 2022.
Sự bùng phát của đại dịch Covid cũng khiến người dân nhận thức được tầm quan trọng của sức khỏe. Do đó, so với việc người dân ăn nhiều thịt và trứng gia cầm thì lượng thủy sản ăn vào ít hơn, hiện tượng này sẽ được thay đổi và nhu cầu đối với các sản phẩm thủy sản sẽ được mở rộng hơn nữa.
Năm 2020, do ảnh hưởng của dịch bệnh nên giá thủy sản sẽ có nhiều biến động. Trong nửa cuối năm 2020, do dịp nghỉ lễ Quốc khánh, giá thủy sản đã tăng trở lại. Theo dữ liệu từ Mạng Thông tin Nông nghiệp Trung Quốc, vào tháng 10/ 2020, giá bán buôn thủy sản bình quân là 22,94 NDT/ kg, tăng 0,9% so với tháng trước, giảm 5,3 điểm phần trăm so với tháng 9 năm 2020 và một năm. -tăng 7,5% so với cùng kỳ năm ngoái.
|
Tổng quan cung – cầu thuỷ sản Trung Quốc, 2017-2022 |
||||||
|
Chỉ số |
2017 |
2018 |
2019 |
2020 |
2021(*) |
2022 (*) |
|
Tổng sản lượng (triệu tấn) |
64,45 |
64,58 |
64,8 |
65,49 |
65,75 |
66,12 |
|
Sản lượng khai thác biển |
13,21 |
12,7 |
12,17 |
11,79 |
11,19 |
10,68 |
|
Sản lượng nuôi trồng |
49,06 |
49,91 |
50,79 |
52,12 |
52,2 |
52,74 |
|
Trong đó: Nuôi biển |
20 |
20,31 |
20,65 |
21,35 |
21,81 |
22,31 |
|
Nuôi nước ngọt |
29,06 |
29,6 |
30,14 |
30,77 |
30,39 |
30,43 |
|
Sản lượng chế biến thuỷ sản (triệu tấn) |
21,96 |
21,57 |
21,71 |
22,38 |
22,72 |
23,06 |
|
Tiêu thụ thuỷ sản (triệu tấn) |
65,01 |
65,47 |
66,8 |
68,33 |
69,61 |
70,89 |
|
Tiêu thụ thuỷ sản bình quân đầu người (kg/năm) |
11,5 |
11,4 |
13,6 |
13,6 |
14,25 |
14,9 |
|
Trong đó: Tiêu thụ bình quân tại thành thị |
14,8 |
14,3 |
16,7 |
16,45 |
16,97 |
17,49 |
|
Tiêu thụ bình quân tại nông thôn |
7,4 |
7,8 |
9,6 |
9,75 |
10,42 |
11,09 |
|
Nguồn: tổng hợp từ askci.com * Dự báo của Viện Nghiên cứu Công nghiệp Thương mại Trung Quốc |
||||||
EU đang nới lỏng một số điều kiện nhất định và giãn thời hạn thực thi một số quy định. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cần lưu ý rằng thời gian trì hoãn này có hạn.
(vasep.com.vn) Xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam đang ghi nhận đà tăng trưởng ấn tượng, phản ánh sự mở rộng nhu cầu trên thị trường quốc tế cũng như dư địa phát triển của ngành hàng này. Tuy nhiên, đằng sau những con số tăng trưởng mạnh là những hạn chế về nền tảng sản xuất và chuỗi cung ứng, đặt ra yêu cầu phát triển bền vững trong giai đoạn tới.
(vasep.com.vn) Ngành khai thác mực Illex tại Argentina đang trải qua mùa vụ ấn tượng trong năm 2026, với sản lượng đạt hơn 156.800 tấn, tiếp nối chuỗi hai năm lập kỷ lục. Thành công này chủ yếu đến từ quần đàn mực sinh sản mùa hè, trong khi quần đàn Nam Patagonia – từng là trụ cột của ngành – gần như biến mất khỏi sản lượng khai thác.
(vasep.com.vn) Tổ chức Tax Foundation, nhóm nghiên cứu thường phản đối thuế mới, đánh giá chiến dịch thuế quan toàn cầu của Tổng thống Donald Trump sau một năm là không hiệu quả.
(vasep.com.vn) Các công ty cung cấp thiết bị nuôi trồng thủy sản của Trung Quốc đang đẩy mạnh mở rộng ra thị trường quốc tế, tận dụng làn sóng tăng trưởng mới của ngành nuôi cá toàn cầu. Nhiều doanh nghiệp đã giành được hợp đồng tại Trung Đông, châu Phi và châu Âu, trong bối cảnh các quốc gia ngày càng chú trọng nâng cao sản lượng, tiết kiệm nước và đảm bảo an ninh lương thực.
(vasep.com.vn) Việc chuyển đổi từ sử dụng cá tạp sang thức ăn viên công nghiệp trong nuôi cá biển tại Việt Nam đang diễn ra chậm, do phải cân bằng giữa hiệu quả sinh học và áp lực chi phí sản xuất. Dù thức ăn viên được chứng minh mang lại nhiều lợi ích vượt trội, người nuôi vẫn chưa dễ dàng từ bỏ thói quen sử dụng cá tạp.
(vasep.com.vn) Sau nhiều năm tăng trưởng mạnh, ngành sản xuất surimi cá minh thái của Nga đang bước vào giai đoạn chuyển đổi quan trọng, với xu hướng chững lại trong năm 2026. Sự thay đổi này không xuất phát từ hạn chế về năng lực sản xuất mà chủ yếu do các doanh nghiệp điều chỉnh chiến lược, ưu tiên các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn.
(vasep.com.vn) Giá tôm Ecuador đang tiếp tục chịu áp lực giảm trong bối cảnh nguồn cung tăng mạnh và những hạn chế trong năng lực chế biến. Theo phân tích thị trường gần đây, xuất khẩu tôm của Ecuador trong tháng 1/2026 đạt 276 triệu pound, tăng 23% so với cùng kỳ năm trước, tạo ra tình trạng dư cung trên thị trường toàn cầu khi nhu cầu không tăng tương ứng.
(vasep.com.vn) Thị trường mực toàn cầu tuần 13 năm 2026 (20–26/3) ghi nhận xu hướng ổn định chung nhưng xuất hiện sự phân hóa rõ rệt theo khu vực và chủng loại sản phẩm. Tại Trung Quốc, giá mực nhìn chung ít biến động, song sự khác biệt về nguồn gốc và quy cách chế biến đang tác động đáng kể đến diễn biến thị trường.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn