Công bố này đã liệt kê 21 mã hàng thủy sản sẽ phải chịu thuế. Các mức thuế mới phản ánh mức thuế hiện tại đang áp dụng cho các sản phẩm thủy sản nhập khẩu vào EU, với mức dao động từ 7,5% đến 15% đối với thủy sản chưa qua chế biến và 24% đối với cá ngừ chế biến hay đóng hộp.
Tỷ lệ lớn các mặt hàng thủy sản nhập khẩu vào Anh không nằm trong thông báo này của Chính phủ, và do đó các mặt hàng này sẽ không phải chịu thuế NK. Các sản phẩm này bao gồm cá hồi, hầu hết các loài cá thịt trắng (một số loài cá vây chân, cá mú và cá tráp sẽ phải chịu thuế), các loài cá nổi và nhuyễn thể hai mảnh vỏ. Trong số các mặt hàng hải sản không phải chịu thuế có những mặt hàng hiện nằm trong hạn ngạch thuế quan tự trị (ATQ) của Liên minh châu Âu.
Các mức thuế quan trong thông báo của chính phủ Anh gồm:
|
DANH MỤC CÁC MẶT HÀNG THỦY SẢN NHẬP KHẨU VÀO ANH PHẢI CHỊU THUẾ SAU BREXIT |
||||
|
Mã |
Tên sản phẩm |
Thuế sau Brexit |
Hạn ngạch ưu đãi thuế quan |
Ghi chú |
|
03038910 |
Cá nước ngọt đông lạnh, chưa được đề cập ở các mã khác |
8% |
|
Bao gồm philê cá và thịt cá khác thuộc nhóm 0304 |
|
03038990 |
Cá đông lạnh, chưa được đề cập ở các mã khác |
15% |
504.090 kg (KL tịnh) |
Bao gồm philê cá và thịt cá khác thuộc nhóm 0304 |
|
03048910 |
Philê cá nước ngọt đông lạnh, chưa được đề cập ở các mã khác |
9% |
|
|
|
03048990 |
Philê cá đông lạnh, chưa được đề cập ở các mã khác |
15% |
2.130.240 kg (KL tịnh) |
|
|
03049965 |
Thịt cá vây chân (Lophius spp) (băm hoặc không băm nhỏ) |
7.5% |
|
Bao gồm philê cá |
|
03061792 |
Tôm sú đông lạnh |
12% |
1.435.181 kg (KL tịnh) |
Bao gồm cả tôm có vỏ hun khói hay tôm cả vỏ hấp hoặc luộc |
|
03061799 |
Tôm loại khác đông lạnh (trừ tôm nước lạnh Pandalidae, Crangon, Parapenaeus longirostris và Penaeus) |
12% |
1.408.901 kg (KL tịnh) |
Bao gồm tôm có vỏ hoặc bỏ vỏ hun khói, tôm có vỏ hấp hoặc luộc |
|
03061990 |
Giáp xác động lạnh dùng làm thực phẩm (trừ tôm hùm đá và các loài tôm sông khác, tôm hùm, tôm nước lạnh, cua ghẹ, tôm nước ngọt và tôm hùm Na Uy “Nephrops norvegicus”) |
12% |
|
Bao gồm cả giáp xác có vỏ hoặc bỏ vỏ hun khói, hấp hoặc luộc |
|
16041421 |
Cá ngừ vằn chế biến nguyên con hoặc cắt miếng ngâm dầu thực vật |
24% |
4.964.723 kg (KL tịnh) |
Không bao gồm thịt cá ngừ xé vụn |
|
16041426 |
Philê hay “loin” cá ngừ vằn chế biến nguyên miếng hoặc cắt khúc |
24% |
|
Không bao gồm các sản phẩm ngâm dầu hoặc thịt cá ngừ xé vụn |
|
16041428 |
Cá ngừ vằn chế biến nguyên con hoặc cắt miếng |
24% |
26.125.513 kg (KL tịnh) |
Không bao gồm thịt cá ngừ xé vụn, Philê hay “loin” cá ngừ, cũng như các sản phẩm ngâm dầu thực vật |
|
16041431 |
Cá ngừ vây vàng chế biến nguyên con hoặc cắt miếng ngâm dầu thực vật |
24% |
208.731 kg (KL tịnh) |
Không bao gồm thịt cá ngừ xé vụn |
|
16041438 |
Cá ngừ vây vàng chế biến nguyên con hoặc cắt miếng |
24% |
1.016.171 kg (KL tịnh) |
Không bao gồm thịt cá ngừ xé vụn, Philê hay “loin” cá ngừ, cũng như các sản phẩm ngâm dầu thực vật |
|
16041441 |
Cá ngừ chế biến nguyên con hoặc cắt miếng ngâm dầu thực vật (trừ thịt cá ngừ vằn và cá ngừ vây vàng “Thunnus albacares” xé vụn) |
24% |
457.931 kg (KL tịnh) |
|
|
16041448 |
Cá ngừ chế biến nguyên con hoặc cắt miếng (trừ thịt cá ngừ vằn và cá ngừ vây vàng “Thunnus albacares” xé vụn ngâm dầu thực vật) |
24% |
126.646 kg (KL tịnh) |
|
|
0301919011 |
Cá hồi vân Oncorhynchus mykiss tươi sống |
12% |
|
Không phải cá cảnh, cỡ ≤1,2kg |
|
0302118011
|
Cá hồi vân, tươi và ướp đá, thuộc loài Oncorhynchus mykiss
|
12%
|
|
Cá nguyên con (còn đầu), còn hoặc bỏ ruột, cỡ 1,2kg hoặc nhỏ hơn; bỏ đầu, còn hoặc bỏ ruột, cỡ ≤1kg. Trừ cá philê và thịt cá khác thuộc mã HS0304 |
|
0303149011
|
Cá hồi vân đông lạnh, thuộc loài Oncorhynchus mykiss |
12%
|
|
Cá nguyên con (còn đầu), còn hoặc bỏ ruột, cỡ 1,2kg hoặc nhỏ hơn; bỏ đầu, còn hoặc bỏ ruột, cỡ ≤1kg. Trừ cá philê và thịt cá khác thuộc mã HS0304 |
|
0304429010
|
Cá hồi vân (Oncorhynchus mykiss) philê tươi sống hoặc ướp đá |
12%
|
|
|
|
0304829010
|
Cá hồi vân (Oncorhynchus mykiss) philê đông lạnh
|
12%
|
|
|
|
0305430011
|
Cá hồi (Oncorhynchus mykiss) hun khói, bao gồm cả philê, trừ cá phế phẩm
|
14%
|
|
Cá nguyên con (còn đầu), còn hoặc đã bỏ mang, còn hoặc đã bỏ ruột, cỡ ≤ 1,2kg; cá nguyên con bỏ đầu, còn hoặc đã bỏ mang, còn hoặc đã bỏ ruột, cỡ ≤ 1kg; cá philê cỡ ≤ 400g. |
Mặc dù chỉ có 21 mã hàng hóa trong danh sách thuế mới, nhưng những thay đổi này có tác động đáng kể. Trong khi trước đây Anh không áp bất kỳ khoản thuế nào đối với các sản phẩm thủy sản nhập khẩu từ EU, trong trường hợp không đạt được thỏa thuận này các nhà NK Anh sẽ phải trả thuế cho các sản phẩm trong danh sách nếu nhập khẩu trực tiếp từ EU. Những sản phẩm đã được liệt kê này sẽ phải chịu thuế nếu được nhập khẩu trực tiếp từ bên ngoài EU và sẽ tiếp tục trong tương lai. Các sản phẩm thủy sản không được liệt kê trong danh sách sẽ tiếp tục được nhập khẩu với mức thuế bằng 0%.
|
BẢNG TÓM TẮT THUẾ HÀNG HÓA NHẬP KHẨU VÀO ANH |
||
|
Miêu tả |
Mức thuế hiện tại |
Mức thuế áp dụng nếu Brexit mà không có thỏa thuận |
|
Các sản phẩm nhập khẩu từ EU được liệt kê |
0% |
Theo thuế của Anh |
|
Các sản phẩm nhập khẩu từ EU không được liệt kê |
0% |
0% (không đổi) |
|
Các sản phẩm nhập khẩu từ bên ngoài EU được liệt kê |
Theo thuế của EU |
Theo thuế của Anh |
|
Các sản phẩm nhập khẩu từ bên ngoài EU không được liệt kê |
Theo thuế của EU |
0% |
Các ưu đãi thuế quan
Các hiệp định thương mại tự do do Chính phủ Anh làm trung gian với một số nước XK cho phép hàng hóa NK từ các nước này vào EU với mức thuế ưu đãi. Cụ thể:
· Chile: một số dòng thuế quan bằng 0. Bảy dòng thuế bao gồm cả cá ngừ chế biến và đóng hộp sẽ bị áp thuế
· Faroe Islands: một số dòng thuế có thể bằng 0.
· Các nước Đông và Nam Phi (Madagascar, Mauritius, Seychelles và Zimbabwe): tất cả các sản phẩm thủy sản được hưởng thuế 0%. (Các sản phẩm hải sản từ Zimbabwe hiện không được phép NK).
· Các sản phẩm thủy sản NK từ Israel, Palestine và Thụy Sĩ được ưu đãi về thuế quan.
Nếu Anh rời EU mà không đạt được thỏa thuận, Chương trình Ưu đãi Thuế quan phổ cập (GSP) của Anh sẽ có hiệu lực. GSP của Anh cho phép nước này tiếp tục dành ưu đãi thương mại cho các quốc gia tương tự như GSP của EU.
Hạn ngạch
Chính phủ Anh đã công bố danh sách dự thảo hạn ngạch thuế quan nhập khẩu các sản phẩm, bao gồm cả các sản phẩm thủy sản. Khi áp dụng hạn ngạch thuế quan, một số lượng hạn chế các sản phẩm thủy sản cụ thể sẽ được nhập khẩu vào Anh với mức thuế thấp hơn.
(vasep.com.vn) Làm thế nào để người tiêu dùng châu Âu mua và ăn tôm thường xuyên hơn? Đây là câu hỏi trung tâm của phiên “Định hình lại nhu cầu tôm tại thị trường EU” diễn ra ngày 2/9 tại Diễn đàn Tôm Toàn cầu (GSF) 2026 ở Utrecht, Hà Lan. Các số liệu từ Circana cho thấy tôm vẫn có sức hấp dẫn về hương vị, dinh dưỡng và giá trị cao cấp, nhưng tần suất tiêu dùng còn thấp và giá là rào cản lớn. Dư địa tăng trưởng vì vậy không chỉ nằm ở giảm giá, mà ở việc đưa tôm gần hơn với bữa ăn hàng ngày thông qua sản phẩm tiện lợi, đổi mới, đúng phân khúc và đúng thị trường.
Nếu tách từ “aquaculture” thành hai phần, có thể thấy một lớp nghĩa đáng suy nghĩ. “Aqua” có gốc Latin, nghĩa là nước. “Culture” ngày nay thường được hiểu là văn hóa, nhưng gốc xa của từ này liên quan đến “cultura”, từ động từ “colere”: chăm sóc, vun trồng, canh tác. Bởi vậy, “aquaculture” không chỉ là nuôi trồng thủy sản theo nghĩa kỹ thuật, mà còn gợi một ý niệm rộng hơn: chăm sóc và nuôi dưỡng sự sống trong môi trường nước.
(vasep.com.vn) Jingtang Agriculture, doanh nghiệp có trụ sở tại Quảng Đông, Trung Quốc, đang hoàn tất nhà máy chế biến công suất 100.000 tấn tại Maoming. Cơ sở này sẽ sản xuất thức ăn, giống, sản phẩm chăm sóc sức khỏe cho cá rô phi và chế biến cá, hướng tới mở rộng thị phần trong nước.
(vasep.com.vn) Bệnh EHP do vi bào tử trùng nội bào Enterocytozoon hepatopenaei gây ra, không thường gây chết hàng loạt nhưng làm tôm chậm lớn, phân đàn, kéo dài thời gian nuôi và tăng chi phí sản xuất. Tôm thẻ chân trắng và tôm sú đều mẫn cảm với bệnh. EHP thường được phát hiện ở tôm 30–60 ngày tuổi, xuất hiện quanh năm và có thể gia tăng trong mùa khô, các đợt nắng nóng kéo dài.
(vasep.com.vn) Công ty CP Tập Đoàn Thủy sản Minh Phú đang mở rộng công suất chế biến và đẩy mạnh tự động hóa trong bối cảnh nhu cầu từ khách hàng tăng mạnh. Nhà máy Minh Phú Khánh An tại Cà Mau hiện hoạt động khoảng 2/3 công suất thiết kế và dự kiến đạt 100% vào cuối tháng 9. Nhà máy có vốn đầu tư 1.500 tỷ đồng, công suất thiết kế 35.000 tấn sản phẩm thông thường mỗi năm.
(vasep.com.vn) Hội nghị thường niên Aquaculture Europe 2026 của Hiệp hội Nuôi trồng thủy sản châu Âu (EAS) sẽ diễn ra tại Ljubljana, Slovenia vào tháng 9, đúng dịp EAS kỷ niệm 50 năm thành lập. Với chủ đề “Nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh biến đổi toàn cầu”, sự kiện tập trung vào khả năng thích ứng, đổi mới và xây dựng ngành nuôi trồng thủy sản bền vững hơn.
(vasep.com.vn) Tại hội thảo B2B quốc tế (Hosted Buyer Program) trong khuôn khổ Vietfish 2026, ông Nguyễn Hoàng Phẩm – Giám đốc Kinh doanh, Công ty CP Chế biến Thủy sản Tài Kim Anh – đã có bài trình bày “Ngành tôm Việt Nam: Thay đổi để phát triển bền vững” (Vietnam’s shrimp industry: Changing for sustainability. Từ góc nhìn của doanh nghiệp chế biến, bài trình bày cho thấy ngành tôm Việt Nam vẫn duy trì vai trò chủ lực trong xuất khẩu thủy sản, nhưng đang bước vào giai đoạn cạnh tranh mới, trong đó thay đổi không còn là lựa chọn, mà là điều kiện để phát triển.
(vasep.com.vn) Maxim Agri Holding, nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi có trụ sở tại Hà Lan, đã ký thỏa thuận với Công ty Phát điện Kenya (KenGen) để đầu tư vào dự án nhà máy thức ăn thủy sản trị giá 3,95 triệu USD tại Kenya, cách Nairobi khoảng 120 km về phía tây bắc.
(vasep.com.vn) VASEP vừa nhận được phản ánh từ một doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam về rủi ro phát sinh trong quá trình giao dịch với khách hàng EURL CAP DE FER tại Algeria. Vụ việc hiện đang trong quá trình trao đổi, làm rõ giữa các bên, tuy nhiên doanh nghiệp xuất khẩu có thể phải đối mặt với chi phí lớn do hàng đã đến cảng nhưng khách hàng chưa nhận hàng.
(vasep.com.vn) Chính phủ Canada và tỉnh British Columbia vừa công bố Quỹ Thủy sản British Columbia (BCFF) với tổng vốn đầu tư 106,5 triệu CAD trong 5 năm, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng của ngành thủy sản trước những thay đổi về thị trường, môi trường và công nghệ. Canada đóng góp 60% nguồn vốn, trong khi British Columbia chịu 40%.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn