Nuôi tôm, lĩnh vực vô vàn phức tạp, bị chi phối ngoại cảnh bởi có “tính cách” địa phương, vùng... cho nên một quy trình nuôi nào đó thực sự có hiệu quả, nhưng chỉ trong phạm vi nào đó, khó nhân rộng tới những địa phương có hoàn cảnh tự nhiên không tương đồng. Có lẽ đây là lý do hết sức cơ bản để không có một mô hình, một quy trình chuẩn mực áp dụng quy mô lớn. Nói vậy, để thanh minh cho nhiều tổ chức, cá nhân đã khẳng định cho mô hình nuôi tôm thành công của mình là không khuếch đại, là thực sự có hiệu quả tại cơ sở nuôi của mình.
Nhưng trong thực tế, yếu tố khách quan cũng thay đổi liên tục như: nhiệt độ, mưa nắng, gió bão, thuỷ văn... các năm không như nhau. Qua đó một quy trình nuôi có thể có kết quả khác nhau trên cùng vùng nuôi. Năm nay trúng, năm sau có thể trúng, nhưng năm kế tiếp lại khác. Nguyên nhân như nêu trên. Trường hợp khác, trên cùng địa phương nhưng hai cơ sở nuôi áp dụng cùng một quy trình nuôi nhưng kết quả cũng không như nhau. Nguyên do, mỗi quy trình nuôi cần có các giải pháp đồng bộ đi cùng. Cơ sở này đáp ứng tốt có kết quả tốt và ngược lại. Quả nuôi tôm quá phức tạp!
Nói dong dài để lý giải thắc mắc của anh bạn kia, phân biệt quy trình 2/3/4, quy trình nhiều giai đoạn, quy trình thu tỉa khác nhau ra sao và quy trình nào tốt hơn? Quy trình nuôi nhiều giai đoạn là ươm tôm con trong ao ươm một thời gian nào đó, rồi sang ao ươm giai đoạn 2, rồi sang ao nuôi thương phẩm. Cái lợi quy trình này là rút ngắn thời gian nuôi trong ao thương phẩm, tăng hệ số sử dụng ao nuôi tối ưu, có thể nuôi 5 vụ mỗi năm.
Lợi thế thứ hai là nếu giai đoạn ươm tôm, tôm không may có sự cố gì thì thiệt hại nhỏ và xử lý nhanh. Nhược điểm quy trình này là tốn công chăm sóc hàng ngày khá chi ly, phù hợp cho các hộ nuôi có quy mô gia đình chục ao tôm trở lại.
Nuôi thu tỉa: Là ao tôm được thả nuôi mật độ khá cao, có thể tối đa 300 con/m2 mặt nước. Tôm nuôi sẽ được thu tỉa khi sinh khối trong ao lớn. Có thể thu tỉa nhiều lần khi đạt cỡ: 70 con, 50 con, 40 con, 30 con/kg và thu cuối cùng cho số tôm còn lại. Mỗi lần thu khoảng 20% trọng lượng tôm trong ao. Công sức bỏ ra để thu tỉa dễ triển khai hơn công sức sang ao tôm, cho nên quy trình nuôi này được áp dụng ở các trại nuôi quy mô lớn.
Ưu điểm quy trình này là sản lượng thu hoạch mỗi ao không thua kém quy trình nuôi nhiều giai đoạn đồng thời thu được nhiều cỡ tôm thuận lợi cho chế biến.
Nhược điểm là thu tỉa nhiều lượt trên mỗi ao phải chú ý có giải pháp hạn chế tối đa bùng phát khí độc từ đáy ao do tác động từ quá trình kéo lưới thu tôm. Tốt nhất, tính toán mỗi lần thu tỉa chỉ nên một lưới kéo, khó quá thì hai lưới kéo mà thôi. Do thu tỉa nhiều lần, quy trình nuôi thu tỉa phù hợp với ao khá lớn, từ 2000 m2 trở lên. Còn ao nhỏ, nhất là ao nổi có diện tích 500-1000 m2, nên nuôi quy trình nuôi nhiều giai đoạn. Bởi ao nhỏ, ít tôm, thu tỉa không có bao nhiêu tôm, không có ý nghĩa về mặt kinh tế.
Nuôi 2/3/4: Là cách nuôi của một doanh nghiệp tôm lớn: nuôi 2 giai đoạn, 3 lần thu tỉa, 4 sạch trong trại nuôi (sạch tôm giống, sạch nước, sạch người nuôi và dụng cụ, sạch - an toàn sinh học). Có nghĩa quy trình nuôi này là sự phối hợp của hai quy trình nuôi nhiều giai đoạn và quy trình nuôi thu tỉa. Tuy nhiên, như phân tích đã có thu tỉa thì diện tích ao phải ở mức độ lớn nào đó mới hiệu quả. Bây giờ quy trình nuôi nào cũng được gọi là nuôi vi sinh. Bởi quy trình nuôi nào cũng quan tâm bổ sung vi sinh xử lý chất thải đáy ao kết hợp khống chế vi khuẩn có hại đồng thời bổ sung lợi khuẩn để kích thích tiêu hoá cho tôm.
Quy trình nuôi công nghệ càng cao khi ứng dụng được nhiều thành quả khoa học kỹ thuật vào nuôi tôm, thí dụ có thể nắm bắt tình hình ao tôm từ xa qua điện thoại di động như chỉ số ôxy hoà tan, độ mặn, độ kiềm... Từ đó có giải pháp xử lý kịp thời. Việc nắm bắt các thông tin trong từng ao nuôi thông qua các đầu dò đặt trong từng ao nuôi. Chi phí này không nhỏ, nên việc ứng dụng chưa phổ biến.
Tóm lại, nuôi tôm lệ thuộc khá lớn yếu tố tự nhiên, khách quan. Cho nên một cơ sở nuôi nào đó nuôi năm trúng, năm lại kém là chuyện bình thường. Dẫn đến không có một quy trình nuôi nào là chuẩn mực tuyệt đối, chỉ có quy trình nuôi căn bản và các cơ sở nuôi vận dụng linh hoạt, phù hợp vào hoàn cảnh cụ thể của cơ sở nuôi của mình ở từng thời điểm. Sự chủ động trên nền tảng biến động thường xuyên của môi trường nói lên bản lĩnh người nuôi. Muốn vậy, người nuôi không nên rập khuôn, phải chú ý học hỏi từ những yếu tố chi li, nhỏ nhất đến những nền tảng lớn hơn như xác định quy trình nuôi nào phù hợp hoàn cảnh cơ sở nuôi của mình. Qua rồi công nghệ nuôi “đốt nhang”, thả nuôi xong là lo van xin - vái bề trên. Người nuôi tôm giai đoạn mới phải làm chủ trên cơ sở nuôi tôm của mình, phải chủ động “cứu” mình, không còn cảnh rủi may.
Tháng 6/2021
Hồ Quốc Lực
Sáng 13/7, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng dẫn đầu đoàn công tác của Chính phủ làm việc tại An Giang, khảo sát hoạt động của Công ty Cổ phần Rau quả thực phẩm An Giang (Antesco) và Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu thủy sản Cửu Long An Giang. Phó Thủ tướng yêu cầu địa phương sớm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, tăng cường liên kết vùng nguyên liệu, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số và truy xuất nguồn gốc nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản, thủy sản Việt Nam.
(vasep.com.vn) Tại buổi chia sẻ trực tuyến về “Quản lý thức ăn và hội chứng phân trắng”, các chuyên gia cho rằng hội chứng phân trắng (WFS) không phải là bệnh do một tác nhân đơn lẻ mà là hội chứng phức hợp, hình thành từ sự tương tác giữa vi khuẩn cơ hội, ký sinh trùng, dinh dưỡng và điều kiện môi trường ao nuôi.
(vasep.com.vn) Thức ăn chiếm 50-60% tổng chi phí nuôi tôm, nhưng hiệu quả quản lý cho ăn còn ảnh hưởng đến hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) nhiều hơn cả chất lượng thức ăn. Theo các chuyên gia, quản lý cho ăn có thể quyết định tới 65-75% biến động của FCR, trở thành yếu tố then chốt nâng cao hiệu quả kinh tế và tính bền vững của mô hình nuôi tôm ngoài trời.
(vasep.com.vn) Sau Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu nông lâm thủy sản, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu năm 2026, các địa phương gồm Vĩnh Long, An Giang, Quảng Ngãi, Đồng Tháp và Thanh Hóa đã có văn bản phản hồi một số kiến nghị của VASEP liên quan đến phát triển vùng nguyên liệu nuôi trồng thủy sản và thủ tục xác nhận, chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác đối với nhóm tàu cá quy mô nhỏ dưới 6m.
(vasep.com.vn) Từ ngày 1/7/2026, Quy định sửa đổi (EU) 2024/2895 của Ủy ban châu Âu sửa đổi Quy định (EC) 2073/2005 về tiêu chí vi sinh đối với thực phẩm chính thức có hiệu lực. Quy định này mở rộng trách nhiệm đảm bảo an toàn vi sinh đối với vi khuẩn Listeria monocytogenes trong thực phẩm ăn liền (RTE) từ nhà sản xuất ban đầu sang toàn bộ các chủ thể kinh doanh thực phẩm trong chuỗi cung ứng. Động thái này nhằm ứng phó với số ca nhiễm khuẩn Listeria tại châu Âu năm 2022 tăng 15,9% so với năm 2021, với số ca tử vong do ngộ độc thực phẩm ở mức cao nhất trong 10 năm.
(vasep.com.vn) Các phiên điều trần của Cơ quan Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) về đề xuất áp thuế theo Section 301 liên quan đến lao động cưỡng bức đã cho thấy sự chia rẽ rõ rệt trong ngành thủy sản Mỹ. Trong khi các nhà nhập khẩu cảnh báo chi phí thuế có thể tăng mạnh, các nhà sản xuất tôm và cá da trơn nội địa lại ủng hộ áp thuế cao hơn, thậm chí kêu gọi cấm nhập khẩu đối với một số sản phẩm.
(vasep.com.vn) Liên minh Thủy sản Toàn cầu (GSA) vừa hợp tác với nền tảng ẩm thực Great British Chefs triển khai chiến dịch nâng cao nhận thức về nhãn chứng nhận Thực hành Nuôi trồng Thủy sản Tốt nhất (BAP) đối với đầu bếp và người tiêu dùng.
(vasep.com.vn) Theo số liệu thương mại do Bộ Tài chính Nhật Bản công bố ngày 26/6, xuất khẩu thủy sản của nước này trong tháng 5/2026 đạt 42.716 tấn, giảm 2% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu lại tăng mạnh 41%, lên 33,58 tỷ yên (khoảng 208 triệu USD), phản ánh xu hướng giá thủy sản tăng cao trên thị trường quốc tế.
(vasep.com.vn) Xuất khẩu các sản phẩm surimi của Nhật Bản tiếp tục tăng nhờ nhu cầu quốc tế gia tăng tại Bắc Mỹ, Trung Mỹ, châu Âu, Trung Đông và Đông Nam Á. Theo thống kê thương mại của Bộ Tài chính Nhật Bản, khối lượng xuất khẩu surimi, bao gồm các sản phẩm như kamaboko (chả cá hấp) nhưng không tính xúc xích cá, đạt 4.186 tấn trong 5 tháng đầu năm 2026, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước.
(vasep.com.vn) Ấn Độ đã đề nghị Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) rút đề xuất áp thuế bổ sung 12,5% đối với hàng hóa nhập khẩu từ nước này liên quan đến cuộc điều tra theo Điều khoản 301 về các vấn đề thương mại và lao động cưỡng bức.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn