Căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc bắt đầu xảy ra hơn 2 năm trước, nhưng sự căng thẳng liên quan đến ngành thủy sản bắt đầu từ ngày 24/9/2018. Đây là thời điểm Mỹ áp thuế 10% đối với hàng hóa trị giá 200 tỷ USD của Trung Quốc, bao gồm các mặt hàng thủy sản phổ biến như cá rô phi, mực, tôm, cá ngừ, ghẹ đỏ. Sau đó ngày 10/5/2019, Mỹ đã tăng thuế đối với các sản phẩm này lên mức 25%.
Đối tượng bị ảnh hưởng nặng nề nhất?
Theo dữ liệu của NOAA, nếu dựa theo biểu thuế được tính từ tháng 10/2018-12/2019, các nhà NK rô phi Trung Quốc vào Mỹ bị ảnh hưởng nhiều nhất. Trong vòng 15 tháng, các nhà NK rô phi đã nộp 77,1 triệu USD tiền thuế, trong khi đó các nhà NK mực nộp 33,5 triệu USD, các nhà NK tôm nộp 28,7 triệu USD.
Tất nhiên, việc nộp thuế càng nhiều thì tổn thất doanh số liên quan ảnh hưởng nhiều hơn.
Theo dữ liệu từ NOAA, trong năm 2019, Mỹ đã NK 430.415 tấn thủy sản từ Trung Quốc với giá trị 1,9 tỷ USD, giảm 26% về khối lượng và 34% về giá trị so với 586.228 tấn và giá trị 2,9 tỷ USD trong năm 2018. Năm 2017, trước khi cuộc chiến thương mại bắt đầu, Mỹ đã NK 570.287 tấn thủy sản từ Trung Quốc với giá 2,7 tỷ USD.
Các doanh nghiệp NK tôm từ Trung Quốc của Mỹ là những người bị thiệt hại nhiều nhất trong hoạt động kinh doanh của mình. Trong năm 2019, Mỹ đã NK 20.086 tấn tôm với giá trị 106,3 USD, giảm 60% về khối lượng (50.845 tấn) và giảm 69% về giá trị (339,7 triệu USD) so với năm 2018. Trong năm 2017, khối lượng và giá trị NK tôm tương tự năm 2018 với sản lượng NK 46.030 tấn (tăng 56% so với năm 2019) và giá trị 334,4 triệu USD (tăng 68% so với năm 2019).
Mặc dù chưa xác định được mức thuế mà Trung Quốc áp đặt đối với thủy sản Mỹ, tuy nhiên dữ liệu của NOAA cũng cho thấy, các DN Trung Quốc NK thủy sản Mỹ cũng bị thiệt hại trong hoạt động kinh doanh của mình.
Trong năm 2019, Trung Quốc đã NK 341.046 tấn thủy sản từ Mỹ với giá trị 889,8 triệu USD, giảm 11% về khối lượng và 23% về giá trị so với 384.932 tấn và giá trị 1,2 tỷ USD trong năm 2018. Năm 2017, Trung Quốc đã NK 473.638 tấn thủy sản từ Mỹ (tăng 28% so với năm 2019) với giá trị 1,3 tỷ USD (tăng 33% so với năm 2019).
Thỏa thuận thương mại chưa giúp các sản phẩm giảm thuế
Thỏa thuận thương mại “giai đoạn một” giữa Mỹ và Trung Quốc được công bố ngày 15/1/2020 được dự báo sẽ mang lại những tín hiệu tích cực cho ngành thủy sản, tuy nhiên thỏa thuận này chưa mang lại những hiệu ứng tích cực như mong đợi.
Chưa đầy 1 tháng sau khi thỏa thuận được công bố, Trung Quốc tuyên bố sẽ cắt giảm một nửa thuế trừng phạt mà nước này mới áp đặt đối với 173 mặt hàng thủy sản của Mỹ. Sau đó, ngày 24/2/2020, Trung Quốc tiếp tục tuyên bố sẽ miễn thuế áp đặt bổ sung đối với 44 sản phẩm thủy sản với trị giá 300 triệu USD, đặc biệt bao gồm cả sản phẩm tôm hùm sống.
Các DN Trung Quốc NK tôm hùm Mỹ đang phải trả 37% thuế quan, so với mức thuế 7% được áp dụng từ các quốc gia được ưa chuộng nhất đối với sản phẩm tôm hùm Canada. Do đó, việc miễn thuế được xem là một tín hiệu rất tích cực ít nhất cho đến thời điểm Trung Quốc giải quyết tình trạng dịch bệnh trong nước và các giao dịch được hoạt động trở lại.
Tuy nhiên, hiện tại Trung Quốc vẫn chưa công bố chính thức liệu quốc gia này có chấp nhận các yêu cầu giảm thuế từ phía Mỹ và thực sự sẽ gỡ bỏ thuế đối với tôm hùm của Mỹ.
Trong khi đó, Mỹ dường như sẽ không đưa ra các biện pháp đáp trả bằng cách tăng thuế đối với thủy sản Trung Quốc. Theo các chuyên gia, Mỹ có khả năng sẽ thực hiện các điều khoản trong thỏa thuận giai đoạn một.
Tuy nhiên, “Thông báo giảm thuế rộng rãi dự kiến sẽ không được thực hiện cho đến giai đoạn hai của thỏa thuận”. Theo Steven Mnuchin, Bộ trưởng Tài chính Mỹ, điều đó sẽ không xảy ra cho đến sau cuộc bầu cử Tổng thống vào tháng 11/2020 của Mỹ.
Bên cạnh đó, vẫn có những sản phẩm được giảm thuế
Các DN đơn lẻ được phép nộp đơn cho Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) đến ngày 30/9/2019 để xin miễn thuế quan. USTR đã chấp thuận một số yêu cầu giảm thuế. Trong một thông báo về việc miễn thuế cho sản phẩm ngày 31/1/2020, USTR tuyên bố đã miễn thuế đối với phi lê cá bơn sole Alaska, cá bơn (plaice), thịt cua tuyết đông lạnh cũng như 6 mặt hàng khác được chế biến ở Trung Quốc, NK vào Mỹ.
Tuy nhiên, nhiều yêu cầu của các nhà NK Mỹ xin miễn thuế đã bị từ chối. Các sản phẩm không được miễn thuế bao gồm cả tôm đông lạnh và tôm tẩm bột, mực làm sạch đông lạnh, thịt tôm hùm đất (không bỏ đuôi) đông lạnh), thịt cua ghẹ tiệt trùng và đông lạnh.
Gần đây nhất ngày 14/2/2020, USTR cho biết đã từ chối yêu cầu miễn thuế 25% đối với sò điệp đông lạnh Trung Quốc.
Hiện, các nhà NK chưa tìm được sản phẩm thay thế sò điệp Trung Quốc. Đây cũng là lý do họ yêu cầu USTR miễn thuế. Sò điệp Mỹ không đủ khả năng cạnh tranh với sò điệp Trung Quốc về sản lượng, kích cỡ và giá cả đắt hơn nhiều
Tuy nhiên, giống như các phản hồi từ chối khác, USTR cho rằng yêu cầu miễn thuế chưa chứng minh được rằng việc áp thuế bổ sung đối với sản phẩm sẽ gây ra những tổn hại nghiêm trọng cho nhà NK hoặc các lợi ích khác của Mỹ.
Đài Loan, Indonesia và Honduras tăng thị phần XK cá rô phi tại thị trường Mỹ
USTR vẫn chưa đưa ra phán quyết về việc sẽ miễn thuế cho sản phẩm cá rô phi Trung Quốc theo yêu cầu của 4 công ty (The Fishin' Company, Dagim Tahorim Co., J&J Seafood International USA và Hilo Fish Company) hay không. Cơ quan này đã liệt kê 6 yêu cầu kết hợp của mỗi công ty đang ở “giai đoạn 2” hoặc “giai đoạn 3”. Điều này có nghĩa là các công ty vẫn đang trong quá trình xem xét 4 giai đoạn của USTR.
“Sản lượng cá rô phi của Mỹ không đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ”, công ty Fishin có trụ sở tại Pennsylvania đã lập luận trong yêu cầu của mình. Mỹ chỉ sản xuất khoảng 1/20 lượng cá rô phi so với khối lượng rô phi NK. Ngoài ra, Mỹ cũng thiếu năng lực nuôi trồng thủy sản để tăng sản lượng cá rô phi, Fishin cho biết thêm.
Mức thuế áp đặt cao đã làm giảm lượng cá rô phi Trung Quốc NK vào Mỹ. Trong năm 2019, các nhà NK Mỹ đã NK 119.410 tấn với giá trị 333,3 triệu USD, giảm 16% về khối lượng so với 142.085 tấn và giảm 25% về giá trị so với 445,7 triệu USD NK trong năm 2018.
So với khối lượng và giá trị NK trong năm 2017 – thời điểm trước cuộc thương chiến, khối lượng NK năm 2019 thấp hơn 11% (133.747 tấn được NK trong năm 2017) và thấp hơn 22% (giá trị NK trong năm 2017 đạt 426,5 triệu USD).
Trong năm 2019, Trung Quốc chiếm 69% thị phần NK cá rô phi của Mỹ. Tuy nhiên mức thị phần này đã giảm so với năm 2018 khi quốc gia này sở hữu 75% thị phần.
Rô phi Trung Quốc đã dần đánh mất sự thống trị của mình ở thị trường Mỹ và là một trong số ít loài chịu ảnh hưởng tiêu cực từ báo chí trong vài năm qua. Vào thời kỳ cao điểm năm 2012, Mỹ đã NK173.398 tấn cá rô phi Trung Quốc với giá trị 653,4 triệu USD - gần gấp đôi giá trị NK trong năm 2019.
Trong năm 2019, các nhà chế biến của Trung Quốc cũng sẵn sàng giảm giá cá rô phi để giúp các nhà NK đối phó với các chi phí thuế quan tăng thêm. Theo dữ liệu của NOAA, sự giảm giá thể hiện qua bảng giá trung bình được trả cho mỗi kg cá rô phi Trung Quốc trong năm 2019. So với mức 3,14 USD/kg trong năm 2018, mức giá 2,79 USD/kg năm 2019 thấp hơn 11%. Mức giá này chưa tính thuế quan phải trả.
Các nhà NK cá rô phi của Mỹ từ Đài Loan, Honduras và Indonesia – các nguồn cung lớn thứ 2, thứ 3 và thứ 4 theo thứ tự cho Mỹ, đều tăng thị phần của mình trong bối cảnh chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc, trong khi đó thị phần của rô phi Colombia giảm.
Giống như Trung Quốc, Đài Loan và Indonesia – hai quốc gia chiếm lần lượt 9% và 4% thị phần trong năm 2019, XK chủ yếu cá rô phi đông lạnh, dù Đài Loan thường XK cá rô phi nguyên con, chưa cắt tỉa sang Mỹ. Trong khi đó, Honduras và Colombia – hai quốc gia sở hữu lần lượt 5% và 4% thị phần trong năm 2019, chủ yếu XK cá rô phi tươi với khối lượng XK lần lượt là 77% và 99%.
Mặc dù giá cá rô phi Trung Quốc giảm. Tuy nhiên, trong năm 2019 cá rô phi Đài Loan có giá rẻ nhất với 2,53 USD/kg, cá rô phi từ Indonesia có giá 6,81 USD/kg. Cá rô phi Honduras có giá 5,82 USD, cao hơn mức 5,64 USD/kg trong năm 2018 trong phi cá rô phi từ Colombia có giá 6,17 USD/kg, giảm 19% so với mức 7,63 USD/kg trong năm 2018.
Một lý do khiến cá rô phi Trung Quốc không mất đi sự kiểm soát tại thị trường Mỹ đó là các nhà sản xuất từ các quốc gia khác hiểu rằng cuộc thương chiến giữa Mỹ và Trung Quốc chỉ là tạm thời, do đó các quốc gia này cũng không mạo hiểm đầu tư một khoản chi phí lớn vào cơ sở hạ tầng để hỗ trợ sản xuất thêm.
Sự bùng phát dịch Covid-19 đã làm chậm quá trình sản xuất cá rô phi ở Trung Quốc và các nhà máy cũng chưa thể đạt công suất 100%, tuy nhiên các nhà máy đã bắt đầu hoạt động trở lại.
(vasep.com.vn) Làm thế nào để người tiêu dùng châu Âu mua và ăn tôm thường xuyên hơn? Đây là câu hỏi trung tâm của phiên “Định hình lại nhu cầu tôm tại thị trường EU” diễn ra ngày 2/9 tại Diễn đàn Tôm Toàn cầu (GSF) 2026 ở Utrecht, Hà Lan. Các số liệu từ Circana cho thấy tôm vẫn có sức hấp dẫn về hương vị, dinh dưỡng và giá trị cao cấp, nhưng tần suất tiêu dùng còn thấp và giá là rào cản lớn. Dư địa tăng trưởng vì vậy không chỉ nằm ở giảm giá, mà ở việc đưa tôm gần hơn với bữa ăn hàng ngày thông qua sản phẩm tiện lợi, đổi mới, đúng phân khúc và đúng thị trường.
Nếu tách từ “aquaculture” thành hai phần, có thể thấy một lớp nghĩa đáng suy nghĩ. “Aqua” có gốc Latin, nghĩa là nước. “Culture” ngày nay thường được hiểu là văn hóa, nhưng gốc xa của từ này liên quan đến “cultura”, từ động từ “colere”: chăm sóc, vun trồng, canh tác. Bởi vậy, “aquaculture” không chỉ là nuôi trồng thủy sản theo nghĩa kỹ thuật, mà còn gợi một ý niệm rộng hơn: chăm sóc và nuôi dưỡng sự sống trong môi trường nước.
(vasep.com.vn) Jingtang Agriculture, doanh nghiệp có trụ sở tại Quảng Đông, Trung Quốc, đang hoàn tất nhà máy chế biến công suất 100.000 tấn tại Maoming. Cơ sở này sẽ sản xuất thức ăn, giống, sản phẩm chăm sóc sức khỏe cho cá rô phi và chế biến cá, hướng tới mở rộng thị phần trong nước.
(vasep.com.vn) Bệnh EHP do vi bào tử trùng nội bào Enterocytozoon hepatopenaei gây ra, không thường gây chết hàng loạt nhưng làm tôm chậm lớn, phân đàn, kéo dài thời gian nuôi và tăng chi phí sản xuất. Tôm thẻ chân trắng và tôm sú đều mẫn cảm với bệnh. EHP thường được phát hiện ở tôm 30–60 ngày tuổi, xuất hiện quanh năm và có thể gia tăng trong mùa khô, các đợt nắng nóng kéo dài.
(vasep.com.vn) Công ty CP Tập Đoàn Thủy sản Minh Phú đang mở rộng công suất chế biến và đẩy mạnh tự động hóa trong bối cảnh nhu cầu từ khách hàng tăng mạnh. Nhà máy Minh Phú Khánh An tại Cà Mau hiện hoạt động khoảng 2/3 công suất thiết kế và dự kiến đạt 100% vào cuối tháng 9. Nhà máy có vốn đầu tư 1.500 tỷ đồng, công suất thiết kế 35.000 tấn sản phẩm thông thường mỗi năm.
(vasep.com.vn) Hội nghị thường niên Aquaculture Europe 2026 của Hiệp hội Nuôi trồng thủy sản châu Âu (EAS) sẽ diễn ra tại Ljubljana, Slovenia vào tháng 9, đúng dịp EAS kỷ niệm 50 năm thành lập. Với chủ đề “Nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh biến đổi toàn cầu”, sự kiện tập trung vào khả năng thích ứng, đổi mới và xây dựng ngành nuôi trồng thủy sản bền vững hơn.
(vasep.com.vn) Tại hội thảo B2B quốc tế (Hosted Buyer Program) trong khuôn khổ Vietfish 2026, ông Nguyễn Hoàng Phẩm – Giám đốc Kinh doanh, Công ty CP Chế biến Thủy sản Tài Kim Anh – đã có bài trình bày “Ngành tôm Việt Nam: Thay đổi để phát triển bền vững” (Vietnam’s shrimp industry: Changing for sustainability. Từ góc nhìn của doanh nghiệp chế biến, bài trình bày cho thấy ngành tôm Việt Nam vẫn duy trì vai trò chủ lực trong xuất khẩu thủy sản, nhưng đang bước vào giai đoạn cạnh tranh mới, trong đó thay đổi không còn là lựa chọn, mà là điều kiện để phát triển.
(vasep.com.vn) Maxim Agri Holding, nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi có trụ sở tại Hà Lan, đã ký thỏa thuận với Công ty Phát điện Kenya (KenGen) để đầu tư vào dự án nhà máy thức ăn thủy sản trị giá 3,95 triệu USD tại Kenya, cách Nairobi khoảng 120 km về phía tây bắc.
(vasep.com.vn) VASEP vừa nhận được phản ánh từ một doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam về rủi ro phát sinh trong quá trình giao dịch với khách hàng EURL CAP DE FER tại Algeria. Vụ việc hiện đang trong quá trình trao đổi, làm rõ giữa các bên, tuy nhiên doanh nghiệp xuất khẩu có thể phải đối mặt với chi phí lớn do hàng đã đến cảng nhưng khách hàng chưa nhận hàng.
(vasep.com.vn) Chính phủ Canada và tỉnh British Columbia vừa công bố Quỹ Thủy sản British Columbia (BCFF) với tổng vốn đầu tư 106,5 triệu CAD trong 5 năm, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng của ngành thủy sản trước những thay đổi về thị trường, môi trường và công nghệ. Canada đóng góp 60% nguồn vốn, trong khi British Columbia chịu 40%.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn