Trên thế giới, cá tra hiện là mặt hàng cá thịt trắng nuôi chiếm vị trí quan trọng thứ hai. Tại Việt Nam, đây là nhóm ngành thủy sản xuất khẩu chiến lược. Ngành công nghiệp cá tra đã tạo công ăn việc làm cho hàng trăm nghìn lao động, đồng thời góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả vùng.
Song hiện trạng kỹ thuật và tình hình bệnh trong ao ương giống cá tra cho thấy: tỷ lệ sống của cá tra ương đến 30 ngày tuổi là 18,2%, đến 90 ngày tuổi thì tỷ lệ này chỉ còn 11,1%. Chất lượng con giống thấp đã dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn cung cấp cho người nuôi cá thịt.
Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra, có nhiều nguyên nhân tác động làm giảm tỷ lệ sống của cá trong quá trình ương như: nguồn thức ăn tự nhiên ưa thích của cá, chất lượng nguồn nước, mật độ ương và chất lượng đàn cá bố mẹ.
Thức ăn tự nhiên là động vật phù du có vai trò rất quan trọng trong ương cá, nhất là từ giai đoạn bột lên hương. Sự thiếu hụt loại thức ăn này là nguyên nhân chính làm cho cá có tỷ lệ sống sót thấp ở cả môi trường tự nhiên và nhân tạo.
Từ năm 2013 - 2017, Công ty TNHH Trung tâm Sản xuất sạch hơn Việt Nam (VNCPC - thuộc BK Holding - Đại học Bách Khoa Hà Nội) đã cùng WWF-VN, WWF-Áo và VASEP thực hiện dự án “Xây dựng chuỗi cung ứng cá tra bền vững tại Việt Nam - SUPA” do Liên minh châu Âu tài trợ nhằm nâng cao giá trị, giảm giá thành, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, phát triển bền vững cá tra Việt Nam. Trong đó có nghiên cứu nhằm tìm ra mật độ ương và loại thức ăn tự nhiên ban đầu thích hợp cho cá tra khi ương từ giai đoạn bột lên giống, góp phần nâng cao tỷ lệ sống cũng như chất lượng của đàn cá giống.
Nghiên cứu này được tiến hành tại khoa Thủy sản, trường Đại học Cần Thơ, Trung tâm ứng dụng KHCN của Công ty Caseamex (Vĩnh Long) và trại cá Phú Thuận của Công ty Thuận Hưng (Hậu Giang), trong thời gian từ tháng 2 - 6/2015. Thí nghiệm thực hiện tại 9 ao ương có diện tích 1.500m2, với 3 mật độ khác nhau là 600, 800, 1.000 con/m2, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Cá thí nghiệm được sinh sản nhân tạo với chiều dài trung bình ban đầu là 0,5 cm/con.
Trong ao ương cá tra từ giai đoạn bột lên hương ở cả 3 mật độ ương, thành phần thực vật nổi bao gồm các ngành tảo lục, tảo khuê, tảo lam, và tảo mắt. Trong đó, tảo lục luôn chiếm tỷ lệ cao nhất về thành phần loài, với 21 loài được tìm thấy chiếm tỉ lệ 88% ở mật độ 600 con/m2, ở mật độ 800 con/m2 có 18 loài chiếm tỉ lệ 84% và 20 loài chiếm tỉ lệ 79% ở mật độ còn lại.
Thành phần động vật nổi bao gồm các nhóm ngành chủ yếu như Rotifera, Cladocera, Copepoda và Protozoa. Đặc biệt, ngành Rotifer luôn chiếm tỉ lệ cao nhất ở cả 3 mật độ, với 15 loài được tìm thấy chiếm tỉ lệ 79% ở mật độ 600 con/m2, ở mật độ 800 con/m2 có 14 loài chiếm tỉ lệ 74% và 13 loài chiếm tỉ lệ 70% ở mật độ còn lại. Các nhóm động vật nổi còn lại có số loài thấp hơn và biến động từ 1-7 loài chiếm tỉ lệ từ 3 - 39%.
Kết quả về tăng trưởng của cá khi thực hiện ương trong ao đất cho thấy: sau 120 ngày ương từ bột lên giống thì cá giống ở mật độ 600 con/m2 có tốc độ tăng trưởng cao nhất (0,28 g/ngày), với khối lượng trung bình đạt 33,66 g/con, có tốc độ tăng trưởng thấp nhất (0,17 g/con) ở mật độ 1.000 con/m2, với khối lượng trung bình là 20,89 g/con sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05) giữa các nghiệm thức. Về tỉ lệ sống ở các mật độ cũng thể hiện sự khác biệt thống kê với giá trị P<0,05, trong đó, mật độ 1.000 con/m2 có tỉ lệ sống thấp nhất là 8%, mật độ 600 con/m2 có tỉ lệ sống cao nhất 19% và ở mật độ 800 con/m2 là 16%.
Theo đó, khi áp dụng đúng quy trình kỹ thuật và ương cá với mật độ 600 con/m2 lợi nhuận thu được là trên 2 triệu đồng, tương đương với mức sinh lời là khoảng 1.200 đồng/kg cá giống. Trong khi ở 2 mật độ còn lại lợi nhuận đều có giá trị âm và âm nhiều nhất là ở mật độ 1.000 con/m2 (gần 13 triệu đồng).
Điều này có thể được giải thích là do khi nuôi ở mật độ thấp sẽ dễ dàng quản lý đàn cá trong ao nuôi, duy trì được chất lượng nước tốt, là điều kiện tạo nguồn thức ăn tự nhiên ban đầu dồi dào và ổn định, cá có nhiều cơ hội để tìm gặp các loại thức ăn ưa thích mà chúng chọn lựa và đặc biệt là giảm cạnh tranh môi trường sống với nhau.
PGS. TS Dương Nhựt Long - Nguyên trưởng Bộ môn Kỹ thuật nuôi Thủy sản nước ngọt, Khoa Thủy sản (Trường Đại học Cần Thơ) và Lê Xuân Thịnh - Chuyên gia về Hiệu quả tài nguyên và Sản xuất sạch hơn, Giám đốc VNCPC
Trong hoạt động xuất nhập khẩu thủy sản, kiểm soát nhiệt độ, thời gian vận chuyển và điều kiện bảo quản là yếu tố then chốt để duy trì chất lượng hàng hóa. Đặc thù hàng tươi sống và đông lạnh đòi hỏi chuỗi lạnh được phối hợp xuyên suốt từ lưu trữ, vận chuyển đến giao nhận, giúp doanh nghiệp chủ động vận hành, hạn chế gián đoạn và đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế.
(vasep.com.vn) Theo số liệu cập nhật đến ngày 11/10/2026 của Cơ quan Kiểm soát Giấy phép Nghề cá Greenland (GFJK), ba hạn ngạch khai thác thủy sản ngoài khơi được phân bổ cho đội tàu Greenland trong năm 2026 đã đạt hoặc vượt mức được cấp. Các trường hợp gồm cá haddock tại vùng biển phía Bắc Na Uy và cá tuyết Đại Tây Dương tại Đông Nam Greenland cùng vùng biển phía Bắc Na Uy.
(vasep.com.vn) Hải quân Sri Lanka phối hợp với các cơ quan nhà nước và cộng đồng ngư dân triển khai chương trình tăng cường ngăn chặn khai thác bất hợp pháp và bảo vệ môi trường biển tại Trincomalee.
(vasep.com.vn) Xuất khẩu cá rô phi 9 tháng đầu năm 2026 đạt 104 triệu USD, tăng 47% so với cùng kỳ năm 2025. Riêng tháng 9 đạt 13 triệu USD, tăng 86%. Brazil, Mỹ và Ả Rập Xê Út là ba thị trường lớn nhất, chiếm 80% tổng giá trị xuất khẩu.
(vasep.com.vn) Sự dịch chuyển cơ cấu loài nuôi trong ngành thủy sản Trung Quốc sẽ tác động đến thị trường bột cá toàn cầu trong thập kỷ tới mạnh mẽ hơn cả tốc độ tăng tổng sản lượng.
(vasep.com.vn) Theo nghiên cứu mới của Hội đồng Quản lý Biển (MSC), 41% người tiêu dùng thủy sản Australia lo ngại các loại cá và hải sản yêu thích của họ có thể không còn sẵn có trong tương lai, phản ánh mối quan tâm ngày càng lớn đối với tình trạng tài nguyên biển và tính bền vững của ngành khai thác thủy sản.
(vasep.com.vn) Australia và Indonesia vừa hoàn thành một chiến dịch tuần tra phối hợp trên biển, qua đó tăng cường hợp tác khu vực nhằm ngăn chặn tàu nước ngoài khai thác thủy sản trái phép và xử lý các nguy cơ an ninh tại khu vực biên giới biển chung.
(vasep.com.vn) Từ ngày 28–30/10/2026, KLC Seafood sẽ tham gia Triển lãm Thủy sản Trung Quốc (China Fisheries & Seafood Expo – CFSE 2026) tại Thanh Đảo, Trung Quốc, giới thiệu sản phẩm tôm hùm xanh sống của Việt Nam và tìm kiếm cơ hội mở rộng hợp tác với các nhà nhập khẩu, phân phối quốc tế.
(vasep.com.vn) Ngày 19/10/2026, trong khuôn khổ hoạt động xúc tiến thương mại tại Brazil nhân dịp Seafood Show Latin America 2026, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) phối hợp với Thương vụ Việt Nam tại Brazil tổ chức đoàn đến thăm và làm việc với Tập đoàn JBS. Buổi làm việc có sự tham dự của ông Bùi Văn Nghị – Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Brazil, cùng đại diện VASEP và các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam, với các nội dung liên quan đến hợp tác thương mại, đầu tư và phát triển chuỗi cung ứng thực phẩm giữa hai nước, trong đó có mặt hàng cá rô phi.
(vasep.com.vn) Bản tin thủy sản thế giới ngày 22/10/2026 cập nhật những diễn biến đáng chú ý tại các thị trường lớn, từ an toàn thực phẩm, nguồn cung khai thác đến thương mại thủy sản giữa Nga và Trung Quốc. Xu hướng xuất khẩu cá thịt trắng, cua, bột cá cùng những thay đổi về sản lượng tại Mỹ, EU và Indonesia tiếp tục thu hút sự quan tâm của ngành thủy sản toàn cầu.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn