Bộ luật Lao động hiện hành quy định số giờ làm thêm tối đa của người lao động là không quá 50% số giờ làm việc bình thường/ngày, 30 giờ/tháng và tổng số không quá 200 giờ/năm. Trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ/năm (tuy nhiên, doanh nghiệp phải thông báo với cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh).
Ban soạn thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) đề xuất mức mở rộng khung thỏa thuận làm thêm giờ trong các trường hợp đặc biệt tăng thêm 100 giờ/năm so với hiện hành: từ tối đa 300 giờ/năm lên 400 giờ/năm.
Tuy nhiên, 7 hiệp hội đại diện cộng đồng các doanh nghiệp tại Việt Nam, bao gồm: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS), Hiệp hội Da giày – Túi xách Việt Nam (LEFASO), Hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam (JCCI) , Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam (VEIA) và Hiệp hội Doanh nghiệp Mỹ tại Việt Nam (AmCham) đề nghị có những quy định khác.
Trong văn bản gửi đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Văn phòng Chính phủ và một số bộ ngành liên quan, các cơ quan này đã phân tích hang loạt các bất cập trong dự thảo luật hiện nay.
Về số giờ làm thêm tối đa trong một năm và tiền lương làm thêm giờ
Tổng số giờ được làm thêm tối đa trong một năm của Việt Nam đang bị hạn chế (200 giờ), thấp hơn rất nhiều so với các quốc gia đang cạnh tranh lao động với Việt Nam như các nước trong khối ASEAN (Thái Lan: 1.836 giờ, Malaysia: 1.248 giờ, Philippines: 1.224 giờ, Indonesia: 714 giờ) hay Trung Quốc (432 giờ), Bangladesh (408 giờ), Ấn Độ (300 giờ). Quy định giờ làm thêm thấp ảnh hưởng rất lớn tới sức cạnh tranh về lao động của Việt Nam so với các quốc gia khác.
Tình hình tuyển dụng hết sức khó khăn, thậm chí các doanh nghiệp còn phải thường xuyên đi đến các tỉnh xa để tuyển dụng mà vẫn không tuyển đủ lao động làm việc cho mình và tình trạng nghỉ việc tràn lan của người lao động như hiện nay buộc các doanh nghiệp phải tổ chức làm thêm giờ mới có thể đáp ứng nhu cầu sản xuất.
Ngoài ra, thời giờ làm việc tiêu chuẩn của Việt Nam là 48 giờ/tuần, tương đương với các quốc gia đang phát triển, cạnh tranh lao động với Việt Nam như Thái Lan, Ấn Độ, Bangladesh, Malaysia, Philippines, Lào,…nên không thể nói thời gian làm việc của Việt Nam nhiều hơn các nước nên không tăng khung thời gian làm thêm giờ.
Do đó, các doanh nghiệp kính đề nghị tăng mức thời giờ làm thêm tối đa hằng năm từ 200 giờ lên 300 giờ (đối với các ngành nghề bình thường). Riêng đối với một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định, người sử dụng lao động có thể tăng số giờ làm thêm từ 400 giờ lên 500 giờ với điều kiện là có nhu cầu kinh doanh chính đáng như các ngành nghề phục vụ xuất khẩu, phục vụ đơn hàng… và được sự đồng ý của người lao động đối với công việc làm thêm giờ.
Bên cạnh đó, 7 cơ quan này cho rằng, tiền lương làm thêm giờ ở Việt Nam hiện nay đã quá cao so với thời giờ làm việc bình thường (150% vào ngày thường, 200% vào ngày nghỉ hằng tuần, 300% vào ngày nghỉ lễ, tết) và cao hơn so với tiền lương làm thêm giờ của nhiều quốc gia khác như Nhật Bản (125% vào ngày thường, 135% vào ngày nghỉ hằng tuần), Đài Loan (133,3%), Philippines (125%), thậm chí tiền lương làm thêm giờ đã lũy tiến của Nhật Bản mới bằng tiền lương làm thêm giờ của Việt Nam (150%). Do vậy, chúng tôi kiến nghị không quy định trả lương lũy tiến làm thêm giờ để có thể đảm bảo tính cạnh tranh với các quốc gia khác.
Về việc giảm thời giờ làm việc trong tuần xuống 44 giờ/tuần
Tiêu chuẩn về thời giờ làm việc trong tuần hiện nay của các quốc gia đang phát triển và cạnh tranh lao động với Việt Nam như Thái Lan, Ấn Độ, Bangladesh, Malaysia, Philippines, Lào,…đều là 48 giờ/ tuần.
“Hơn nữa, Việt Nam cũng đang trong giai đoạn dân số vàng, do vậy, không có lý do gì để Việt Nam cắt giảm thời gian làm việc trong tuần xuống 44 giờ”, đơn kiến nghị cho biết.
Giới hạn làm thêm giờ của Việt Nam (200 giờ) là quá ít như đã nêu trên nên rất nhiều doanh nghiệp buộc phải “phá vỡ” Luật, vượt khung làm thêm giờ tiêu chuẩn mới có thể đáp ứng đủ nhu cầu của khách hàng. Do đó, ngay cả thời giờ làm việc tiêu chuẩn cũng bị cắt giảm đi thì chắc chắn các doanh nghiệp trong nước sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, gây mất niềm tin và dần dần sẽ không còn đơn đặt hàng nào từ khách hàng nữa. Các Công ty đa quốc gia cũng sẽ phải chuyển sản xuất sang các nước khác, khối lượng công việc ở Việt Nam theo đó cũng sẽ giảm đi đáng kể.
Về thời hạn của Giấy phép lao động
Đối với quy định: “Thời hạn của giấy phép lao động tối đa là 02 năm; trường hợp gia hạn thì chỉ được gia hạn một lần với thời hạn tối đa là 02 năm”, các doanh nghiệp xin kiến nghị giữ nguyên quy định như Luật hiện hành, không hạn chế số lần gia hạn Giấy phép lao động của người lao động nước ngoài như trong Dự thảo Bộ Luật. Đồng thời nâng thời hạn cấp Giấy phép lao động cho người nước ngoài từ hai năm lên ba năm.
Người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam là do người lao động Việt Nam không thể đảm nhận được vị trí công việc đó. Nếu theo quy định của Dự thảo Luật, thời hạn tối đa mà người nước ngoài có thể làm việc tại Việt Nam là 4 năm. Nếu trong 4 năm đó, người lao động Việt Nam vẫn không thể đảm nhận được công việc thì người lao động nước ngoài sẽ phải quay về nước, sau đó xin cấp giấy phép lao động mới và quay lại Việt Nam. Việc này gây mất thời gian, công sức và chi phí cho người lao động và doanh nghiệp. Đồng thời, trong khoảng thời gian đó, doanh nghiệp không có người vận hành nên không thể hoạt động được, ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và kinh doanh.
Các quy định Luật hiện nay về điều kiện xin giấy phép lao động cho người nước ngoài cũng đã rất chặt chẽ, không phải lao động nước ngoài nào cũng đủ điều kiện để xin giấy phép lao động, mà chỉ có các chuyên gia và các lao động kỹ thuật cao. Quy định như Dự thảo Bộ Luật sẽ ảnh hưởng vô cùng lớn, làm hạn chế về môi trường đầu tư của Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
Định nghĩa về tiền lương
Trong quy định của Bộ Luật hiện hành, tiền lương là “khoản tiền” mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận. Còn trong Dự thảo Luật lại quy định tiền lương là “tổng số tiền” mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận. Việc định nghĩa về tiền lương theo Dự thảo Bộ Luật sẽ dẫn tới các khoản tiền không cố định hàng tháng như lương làm thêm giờ, các trợ cấp khác cũng được tính là tiền lương để đóng bảo hiểm.
Trên thực tế, tỷ lệ đóng bảo hiểm ở Việt Nam hiện nay đã tương đối cao (NSDLĐ 21,5%; NLĐ 10,5%) và cao hơn so với rất nhiều quốc gia khác như: Thái Lan (NSDLĐ 5%; NLĐ 5%), Philippines (NSDLĐ 7.37%; NLĐ 3.63%), Indonesia (NSDLĐ 4.24%-5.74%; NLĐ 2%), Ấn Độ (NSDLĐ 10.5%-12.5%; NLĐ 10-12%),… Việc quy định cộng cả lương làm thêm giờ và các trợ cấp khác vào tiền lương để đóng bảo hiểm sẽ khiến số tiền đóng bảo hiểm đã cao lại càng cao hơn nữa, tạo thêm gánh nặng cho cả người lao động và cả doanh nghiệp.
Do vậy, 7 tổ chức này kiến nghị giữ nguyên định nghĩa về tiền lương như quy định tại Bộ Luật hiện hành, là “khoản tiền” mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận.
Về quy định doanh nghiệp bố trí cho toàn bộ công nhân viên nghỉ 1, 2 ngày để thực hiện quyền công đoàn
Cả 7 tổ chức này kiến nghị không quy định vấn đề này trong Dự thảo Bộ Luật. Lý do là trong một năm doanh nghiệp đã phải bố trí rất nhiều thời gian để đào tạo công nhân viên như đào tạo ý thức, tác phong; huấn luyện an toàn hóa chất; huấn luyện an toàn vệ sinh lao động;… mất hàng chục ngày trong năm.
Do vậy, quy định doanh nghiệp bố trí cho toàn bộ công nhân viên nghỉ 1, 2 ngày để thực hiện quyền công đoàn là không cần thiết, tạo thêm quá nhiều gánh nặng và trách nhiệm cho doanh nghiệp.
Ngày 20/3/2026, Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 141/TB-VPCP về kết luận của Thường trực Chính phủ liên quan đến việc xử lý các vướng mắc, bất cập của Nghị định 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP về an toàn thực phẩm.
(vasep.com.vn) Nhu cầu bột cá toàn cầu tiếp tục tăng cùng với sự phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản, song sự phụ thuộc quá lớn vào nguồn nguyên liệu này đang đặt ra nhiều thách thức về chi phí, tính bền vững và an ninh nguồn cung. Trong bối cảnh đó, các giải pháp thay thế như đạm động vật sinh học từ phụ phẩm đang được xem là hướng đi tiềm năng cho ngành thức ăn thủy sản Việt Nam.
(vasep.com.vn) Xung đột tại Iran đang khiến eo biển Hormuz – một trong những tuyến hàng hải quan trọng nhất thế giới – trở thành điểm nghẽn logistics mới, ảnh hưởng đáng kể đến vận tải container toàn cầu. Dù chỉ khoảng 1,4% công suất đội tàu container thế giới bị “đóng băng”, nhưng nếu tính cả các tuyến dịch vụ và vòng quay tàu liên quan đến khu vực Vịnh Ba Tư, tác động thực tế có thể lan tới hơn 10% hệ thống vận tải container toàn cầu.
(vasep.com.vn) Nhu cầu ngày càng tăng đối với các sản phẩm thực phẩm giá hợp lý và giàu dinh dưỡng đang thúc đẩy thị trường surimi toàn cầu mở rộng nhanh trong những năm tới. Theo báo cáo của Fortune Business Insights, quy mô thị trường surimi được ước tính đạt khoảng 4,57 tỷ USD vào năm 2025, tăng lên 4,85 tỷ USD vào năm 2026 và dự kiến đạt 7,83 tỷ USD vào năm 2034, tương ứng với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) khoảng 6,18% trong giai đoạn dự báo.
(vasep.com.vn) Xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong tháng 2/2026, với nhiều thị trường ghi nhận mức tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam đạt 23 triệu USD, tăng 242% so với cùng kỳ năm ngoái.
Việc trở thành thành viên VASEP với Công ty Cổ phần Công nghệ 111 Việt Nam là dấu mốc quan trọng trong hành trình đồng hành cùng ngành thủy sản Việt Nam phát triển bền vững, hiện đại và hội nhập quốc tế.
Từ bao đời nay, cây tre đã trở thành biểu tượng cho sức sống bền bỉ và kiên cường của con người Việt Nam. Tre hiện diện khắp mọi miền đất nước, không chỉ mang lại màu xanh cho đất trời mà còn đi vào đời sống con người bằng nhiều giá trị thiết thực.
(vasep.com.vn) Nguồn cung mực nội địa tại Hàn Quốc tiếp tục khan hiếm, khiến giá tăng nhanh. Để ổn định thị trường và tăng sản lượng, Bộ Đại dương và Thủy sản Hàn Quốc đã cấp phép cho một số tàu lưới kéo cỡ lớn khai thác mực Argentina (Illex argentinus) tại vùng biển Tây Nam Đại Tây Dương.
(vasep.com.vn) Trước tình trạng nguồn cung dầu cá ngày càng hạn chế và giá biến động mạnh, dầu vi tảo đang được xem là nguồn omega-3 thay thế tiềm năng cho cả ngành thức ăn chăn nuôi và thực phẩm. Nhiều nghiên cứu cho thấy sản xuất dầu tảo có thể tăng nhanh trong những năm tới nhằm bù đắp khoảng thiếu hụt omega-3 trên thị trường toàn cầu.
(vasep.com.vn) Trong tháng 2/2026, xuất khẩu cá tra của Việt Nam đạt 119 triệu USD, giảm nhẹ 5% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, nhờ kết quả tích cực trong tháng đầu năm, lũy kế kim ngạch 2 tháng đầu năm vẫn đạt 331 triệu USD, tăng 28% so với cùng kỳ năm 2025.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn