Những năm qua các nhà khoa học Viện III đã nỗ lực không ngừng trong việc nghiên cứu và chuyển giao KHCN đưa nghề nuôi trồng thủy sản miền Trung nói riêng và cả nước nói chung ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về quy mô diện tích, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Đáng chú ý nhất của các nhà khoa học Viện III là những kết quả nghiên cứu về sản xuất giống nhân tạo các đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao như tôm thẻ chân trắng, tôm sú, cua, ốc hương, hàu, sò huyết, trai tai tượng, hải sâm, cá chẽm, cá chình, cá tầm, cá hồi, rong biển… Đồng thời xây dựng quy trình công nghệ nuôi thương phẩm các đối tượng này hiệu quả và bền vững.
Như công nghệ nuôi tôm thâm canh sử dụng các chế phẩm sinh học đạt năng suất cao và bền vững môi trường sinh thái. Trong đó nuôi tôm sú thâm canh cho năng suất đạt 7 - 8 tấn/ha/vụ và nuôi tôm thẻ chân trắng cho năng suất đạt 14 - 15 tấn/ha/vụ.
Hay công nghệ sản xuất giống hàu Thái Bình Dương bám đơn (đã nhận giải thưởng Bông Lúa Vàng Việt Nam lần thứ II năm 2015), với tỷ lệ bám đơn 60%, tỷ lệ thành con giống cấp 1 là 40%. Và, xây dựng thành công quy trình công nghệ nuôi thương phẩm hàu Thái Bình Dương bám đơn với tỷ lệ sống đến khi thu hoạch trung bình là 70%.
Nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất giống nhân tạo giun nhiều tơ. Trong quy trình này tỷ lệ sống trung bình từ giai đoạn ấu trùng đến con giống (2cm) ≥20% và năng suất trung bình đạt ≥ 15.000 con/m2. Theo quy trình nuôi này tỷ lệ sống trung bình trong nuôi thương phẩm ≥ 70% và năng suất trung bình đạt ≥1,8kg/m2. Sản phẩm giun nuôi đảm bảo an toàn sinh học, có chất lượng cao hơn về hàm lượng protein, lipid, acid amin và acid béo so với nguồn giun tự nhiên.
Xây dựng quy trình kỹ thuật sinh sản nhân tạo cua hoàng đế. Nuôi vỗ cua bố mẹ đạt tỷ lệ sống >90%, tỷ lệ thành thục >80%; ương nuôi ấu trùng đến cua bột đạt tỷ lệ sống 1 - 2%; ương từ cua bột lên cua giống đạt tỷ lệ sống 70 - 80%.
TS. Đào Văn Trí
Công nghệ ương giống và nuôi thương phẩm cá chình hoa theo hình thức công nghiệp. Trong đó, chỉ tiêu ương cá chình bột trắng lên giống cấp I (5 g/con) đạt 70%, tỷ lệ sống từ 5g lên giống cấp II (50 - 80g/con) trên 80%. Công suất 150.000 - 300.000 cá giống cấp II/năm; nuôi thương phẩm cá chình hoa công nghiệp trong hệ thống hở, theo hình thức thay nước hàng ngày, bổ sung oxy bằng máy quạt khí, tỷ lệ sống 80%, năng suất 10 - 12 kg/m3, cỡ thu hoạch 2 kg/con, công suất 20 tấn/năm và nuôi thương phẩm cá chình hoa công nghiệp trong hệ thống tuần hoàn kín, bổ sung oxy nguyên chất, tỉ lệ sống 80%, năng suất 50 kg/m3, cỡ cá thu hoạch 2 kg/con, công suất 30 tấn/năm.
Nghiên cứu và xây dựng các mô hình sản xuất giống dinh dưỡng một số loài rong biển có giá trị kinh tế như rong sụn cho năng suất trung bình 33 - 36 tấn/ha/năm; rong nho cho năng suất trung bình 40 tấn/ha/năm; rong câu cước cho năng suất trung bình 24,6 tấn giống/ha/năm.
Đặc biệt lần đầu tiên Viện III đã xây dựng được quy trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm sá sùng tại Việt Nam. Có thể nuôi đơn nhưng cũng có thể nuôi ghép với tôm/cá, nhằm tận dụng lượng thức ăn dư thừa và chất thải của tôm/cá làm thức ăn cho sá sùng để giảm giá thành, giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường...
|
Việc chuyển giao KHCN đối với các nhà khoa học của Viện III theo phương châm “cầm tay chỉ việc”. Từ đó, người dân tiếp nhận một cách hoàn thiện về kỹ thuật nuôi sao hiệu quả. Chính vì vậy nhiều cơ sở cũng như nhiều địa phương từ miền Bắc, Trung, Nam họ đều yêu cầu Viện III chuyển giao công nghệ đã có. |
Sản xuất và nuôi giống cá chình
Bên cạnh đó, Viện III cũng đã chọn tạo thành công tôm thẻ chân trắng bố mẹ nâng cao sinh trưởng và sức sống. Ưu điểm tôm này khác với các đàn tôm bố mẹ nhập nội và các đàn tôm gia hóa là khả năng chịu đựng tốt với biến động lớn về môi trường (biến động nhiệt độ ngày và đêm, biến động độ mặn do mưa…) và dịch bệnh. Tôm chọn giống có khối lượng tăng 28%, tỷ lệ sống cao hơn 17% so với quần đàn ban đầu. Tôm bố mẹ chọn giống có sức sinh sản thực tế trung bình 21.000 Nauplius/tôm mẹ, tỷ lệ sống khi ương từ Nauplius lên Post larvae đạt 50 - 60%...
Theo TS Đào Văn Trí, các kết quả nghiên cứu đạt được trong xây dựng quy trình công nghệ sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm các đối tượng nói trên đã được Viện III chuyển giao rộng rãi đến các hộ nuôi, cơ sở sản xuất và doanh nghiệp trên cả nước. Việc chuyển giao được các cơ quan đánh giá rất tốt. Thật sự đưa được ứng dụng TBKT vào sản xuất thực tiễn, góp phần thúc đẩy phát triển cho nghề nuôi trồng thủy sản Việt Nam, mở rộng về quy mô diện tích và cả về quy trình giúp tăng năng suất và chất lượng sản phẩm.
Cụ thể, các đối tượng chủ lực như tôm sú và tôm thẻ chân trắng đã chuyển giao cả về sản xuất giống và nuôi thương phẩm. Nhờ vậy hiện cả nước đã phát triển trên dưới 720.000ha nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng. Còn trong nuôi thương phẩm các đối tượng như tôm hùm, cua cũng được Viện chuyển giao các quy trình nuôi và kiểm soát môi trường dịch bệnh.
Hiện nghề nuôi này cũng phát triển khoảng 58.890 lồng. Đặc biệt, nổi bật nghề nuôi ốc hương, hàu và gần đây là các đối tương sò huyết, nghêu, trai tai tượng cũng được Viện chuyển giao cho người nuôi, doanh nghiệp tiếp nhận, đã và đang hoàn thiện và phát triển lên trở thành đối tượng nuôi chủ lực, không chỉ phục vụ cho tiêu dùng trong nước mà còn xuất khẩu. Các đối tượng này nếu nuôi đúng quy trình kỹ thuật và giá cả ổn định, người nuôi thu hoạch “bỏ túi” vài trăm triệu đồng/ha, riêng ốc hương thu lãi từ 500 - 700 triệu đồng/ha.
Khoa học thúc đẩy nghề nuôi trồng thủy sản phát triển
Cũng theo TS Đào Văn Trí, gần đây Viện đã chuyển giao thành công công nghệ quy trình đặc thù cho từng vùng miền sinh thái. Ví dụ chuyển giao sản xuất tôm thẻ chân trắng bằng cách nhập tôm bố mẹ và cho đẻ tại chỗ cho các tỉnh ĐBSCL - nơi không thể sản xuất được tôm giống vì nguồn nước lợ.
“Hầu hết các tỉnh ĐBSCL nuôi tôm thương phẩm họ phải ra miền Trung mua tôm giống, khiến chi phí và độ hao hụt trong quá trình vận chuyển tăng. Nên họ mong muốn chúng tôi chuyển giao sản xuất giống tại chỗ, cụ thể là tỉnh Trà Vinh cho Cty TNHH SX-DV Thủy sản Thới Bến (TX Duyên Hải). Hàng năm Cty này sản xuất với số lượng từ 30 - 50 triệu con giống, cung cấp khá đủ cho người nuôi địa phương. Và, con giống sản xuất tại chỗ này người dân cơ bản nuôi thắng lợi nhiều. Nguyên nhân là môi trường sống của con giống sản xuất tại chỗ với môi trường nuôi thương phẩm như nhau, cho nên khả năng thích ứng tốt trong tăng trưởng và khả năng hao hụt trong quá trình vận chuyển bị giảm thiểu tối đa. Tôm sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất và sản lượng cao hơn. Cụ thể, nếu thả mật đô từ 80 - 100 con/m2, thì năng suất đạt được 15 - 20 tấn/ha”, TS Đào Văn Trí chia sẻ.
|
Nuôi thành công tôm hùm trên… bờ Các nhà khoa học ở Viện III đã mở ra “cánh cửa mới” khi thả nuôi tôm hùm trong bể xi măng tuần hoàn nước khép kín trên bờ, kết hợp cho ăn bằng thức ăn công nghiệp. Kết quả, nuôi tôm hùm bông cỡ 15,5 g/con, mật độ 8 con/m2, sau 18 tháng nuôi, tôm đạt khối lượng trung bình 0,68 kg/con; tỉ lệ sống 71,76%; năng suất đạt 3,91 kg/m2; hệ số thức ăn FCR = 3,22. Tăng trưởng của tôm chậm hơn, tỉ lệ sống thấp hơn so với nuôi tôm trong lồng biển bằng thức ăn tươi. Tuy nhiên tôm có vỏ mỏng, sạch, không bị đen bụng đen mang; có khả năng đáp ứng nhu cầu thực phẩm sạch. |
(vasep.com.vn) Các doanh nghiệp nhập khẩu Mỹ đang được cảnh báo về những rủi ro pháp lý và tài chính khi giao hàng theo điều kiện DDP (giao hàng đã nộp thuế), trong bối cảnh Cơ quan Hải quan và Bảo vệ Biên giới Mỹ (CBP) tăng cường kiểm tra hồ sơ nhập khẩu và việc tuân thủ các quy định thuế quan. Diễn biến này cũng đặt ra yêu cầu đối với các nhà cung cấp nước ngoài, trong đó có doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam, về tính minh bạch và chính xác của hồ sơ thương mại, hải quan.
(vasep.com.vn) Nhật Bản đang tăng cường hỗ trợ phát triển khai thác, nuôi trồng thủy sản bền vững và cải thiện sinh kế cho cộng đồng tại Khu tự trị Bangsamoro ở Mindanao Hồi giáo (BARMM), Philippines, nhằm nâng cao năng suất, bảo đảm an ninh lương thực và tăng khả năng thích ứng của người dân.
(vasep.com.vn) Các nhà nghiên cứu tại Đại học Queensland, Australia, phát triển quy trình sử dụng khí sinh học từ chất thải hữu cơ để sản xuất protein đơn bào, mở ra hướng thay thế một phần bột cá trong thức ăn thủy sản.
(vasep.com.vn) Trong bối cảnh nhập khẩu cá ngừ của Đức sụt giảm, xuất khẩu cá ngừ Việt Nam sang thị trường này vẫn ghi nhận những tín hiệu tích cực. Đáng chú ý, kim ngạch xuất khẩu trong quý III/2026 phục hồi mạnh, trong khi số liệu nhập khẩu của Đức cũng cho thấy hàng Việt Nam đang gia tăng vị thế giữa sự cạnh tranh của các nguồn cung.
(vasep.com.vn) Thị trường thủy sản thế giới những ngày đầu tháng 11 ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý về thương mại, thuế chống bán phá giá và cạnh tranh nguồn cung. Mỹ công bố kết quả POR20 đối với tôm Việt Nam, trong khi ngành tôm Mỹ đề nghị điều tra doanh nghiệp Ấn Độ theo Điều 337. Cá tra tiếp tục có tín hiệu tích cực tại thị trường Mỹ, còn nhu cầu sản phẩm thủy sản chế biến, tiện lợi tăng tại Anh. Bên cạnh đó, Nga tiếp tục mở rộng vai trò cung cấp cá minh thái, cá tuyết và thủy sản chế biến cho các thị trường châu Á.
(vasep.com.vn) Giá chào bán cá minh thái Alaska tại biển Bering phục hồi trong tuần thứ ba của tháng 10/2026, sau thời gian đi ngang và giảm nhẹ. Trong giai đoạn 16–22/10, giá cá minh thái bỏ đầu, moi ruột (H&G) cỡ 25+ chào theo điều kiện CFR tăng hai phiên liên tiếp, lên khoảng 2.450 USD/tấn, cao hơn 20–40 USD/tấn so với mức đáy của tuần trước.
(vasep.com.vn) Ấn Độ đã bước vào giai đoạn xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia về nghề cá nội địa quy mô nhỏ, hướng tới cải thiện sinh kế ngư dân, tăng cường phối hợp quản lý và sử dụng bền vững nguồn nước ngọt. Kế hoạch được phát triển theo khuôn khổ của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), do Cục Thủy sản Ấn Độ phối hợp với Chương trình Vịnh Bengal (BOBP-IGO) triển khai.
(vasep.com.vn) Một nghị viên tại hạt Kerry, Ireland, vừa kêu gọi Chính phủ tăng cường các biện pháp xử lý nghiêm đối với tàu cá khai thác bất hợp pháp trong vùng biển nước này, nhằm bảo vệ nguồn lợi thủy sản và lợi ích kinh tế của ngành khai thác trong nước.
(vasep.com.vn) Xuất khẩu thủy sản tháng 10/2026 ước đạt 1,315 tỷ USD, tăng 13,5% so với cùng kỳ, đưa kim ngạch 10 tháng lên 10,459 tỷ USD, tăng 12,1%. Tuy nhiên, tăng trưởng đang dựa nhiều hơn vào các nhóm cá và thị trường châu Á, trong khi xuất khẩu tôm giảm, thị trường Mỹ chuyển sang tăng trưởng âm. Kết quả thuế chống bán phá giá tôm POR20 dự kiến đầu tháng 11 sẽ là yếu tố quan trọng đối với triển vọng những tháng tới.
(vasep.com.vn) Angel Yeast tổ chức hội nghị công nghệ sinh học tại Trung Quốc, quy tụ hơn 500 đối tác quốc tế nhằm thảo luận về sinh học tổng hợp, đổi mới sản xuất sinh học và hợp tác chuỗi cung ứng.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn