Tổng quan về doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản
Vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) miền Trung có lợi thế về vị trí địa lý thuận lợi phát triển kinh tế biển, giá trị sản xuất thủy sản tương đối và là ngành truyền thống lâu đời của các địa phương. Doanh nghiệp xuất khẩu (DNXK) thủy sản tại vùng KTTĐ miền Trung bước đầu được thành lập là các DN nhà nước, hợp tác xã nhưng sau đó khá đa dạng, thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Sản phẩm của các DN này đã có mặt trên 140 thị trường quốc tế. Các DNXK thủy sản của vùng KTTĐ miền Trung đã được đầu tư công nghệ ngày càng hiện đại, quy mô vốn ngày càng lớn, khả năng cạnh tranh của các DN đã có nhiều cải thiện. Tuy nhiên, số lượng DNXK thủy sản còn hạn chế. Toàn vùng KTTĐ miền Trung hiện nay có tổng cộng hơn 50 DNXK thủy sản với quy mô công nghiệp.
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản
Khả năng cạnh tranh của các DNXK thủy sản tại vùng KTTĐ miền Trung được xem xét trên các tiêu chí sau:
Danh tiếng và thương hiệu
Hàng năm, Bộ Công Thương thực hiện đánh giá các DNXK uy tín cho các ngành hàng xuất khẩu khác nhau. Tiêu chuẩn đánh giá được Bộ Công Thương “dựa vào kim ngạch xuất khẩu tối thiểu, uy tín trong kinh doanh đối với bạn hàng, việc thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước”. Kết quả đánh giá năm 2018 cho thấy, cả nước có 36 DNXK thủy sản uy tín thì vùng KTTĐ miền Trung có 3 DN gồm: Công ty cổ phần (CTCP) xuất nhập khẩu thủy sản miền Trung, CTCP Thủy sản và Thương mại Thuận Phước và CTCP Thủy sản Bình Định. Điều này cho thấy, các DNXK thủy sản còn lại chưa có sự thay đổi đột phá để nâng cao uy tín và danh tiếng trên thị trường thế giới; Đồng thời, thể hiện năng lực cạnh tranh của các DN trong vùng còn hạn chế.
Thị phần và khả năng chiếm lĩnh thị trường
Tiêu thụ là một tiêu chí đánh giá kết quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh của DN. Căn cứ vào kết quả tiêu thụ là doanh thu có thể xác định thị phần của các DN trên thị trường. Thị phần thường xác định bằng thị phần tuyệt đối và thị phần tương đối. Xét tương đối trên thị trường thế giới giai đoạn 2013 - 2018 cho thấy, thị phần của DNXK thủy sản Việt Nam năm 2014 tăng so với năm 2013 nhưng năm 2015 và năm 2016 lại có xu hướng giảm, cụ thể năm 2015 là 6,475% giảm so với năm 2014, năm 2016 là 6,387% thấp hơn năm 2015, con số này có dấu hiệu tăng lên và đến năm 2018 lên tới 7,104% cao nhất trong giai đoạn 2013 - 2018.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hiệu quả là chỉ tiêu đánh giá kết quả đạt được và chi phí bỏ ra. Hiệu quả kinh doanh được đánh giá trên nhiều tiêu chí khác nhau, có thể là về kinh tế hoặc xã hội. Vùng KTTĐ miền Trung có tiềm năng phát triển thủy sản, trong vùng hiện nay có một số trung tâm thu mua và chế biến, các nghiệp đoàn nghề cá được thành lập…
Xuất khẩu thủy sản chiếm tỷ trọng tương đối trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả vùng. Tổng giá trị xuất khẩu thủy sản tăng qua các năm song số lượng DN còn rất hạn chế. Hiệu quả kinh doanh của các DN còn được thể hiện thông qua nguồn lực cũng như hiệu quả sử dụng các nguồn lực của DN. Hiện nay, toàn vùng KTTĐ miền Trung có hơn 50 DNXK thủy sản theo quy mô công nghiệp và một số các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ. Các DN này tập trung nhiều ở TP. Đà Nẵng (khoảng 22 DN), sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là thủy sản đông lạnh (chiếm hơn 60%) còn các sản phẩm thủy sản khô có tỷ trọng thấp. Nguồn vốn ít, thiếu vốn là bài toán cần có lời giải cho các DNXK thủy sản trong vùng. Các quy định cũng như thủ tục hành chính còn gây nhiều cản trở, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng cạnh tranh của các DN.
Bên cạnh nguồn vốn, nguồn lao động của DNXK thủy sản cũng là vấn đề cần được quan tâm. Hàng loạt DN thiếu lao động, đặc biệt là lao động có trình độ chuyên môn. Một số DN giảm các tiêu chuẩn lao động để tuyển lao động phổ thông nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ. Thực trạng thiếu hụt lao động trong vùng khó có thể giải quyết nhanh, vì gần như công tác đào tạo của các trường trong vùng về chuyên ngành Thủy sản còn hạn chế. Nhìn chung, các DNXK thủy sản tại vùng KTTĐ miền Trung hoạt động tương đối ổn định, trong đó nhiều DN đạt được kết quả kinh doanh tương đối tốt.
Thời gian qua, các DN đã, đang thực hiện đầy đủ, nghiêm túc chính sách, luật pháp về bảo vệ môi trường. Trong các nhà máy sản xuất luôn sạch sẽ, gọn gàng, thoáng mát. Quy trình sản xuất khép kín theo công nghệ hiện đại đảm bảo tiêu chuẩn và có tính tự động hóa cao. Nguồn nguyên liệu sử dụng bảo đảm yêu cầu tươi, sạch, ít phát sinh chất thải. Các DN trong vùng luôn thực hiện phân loại chất thải đúng quy trình và đều được cấp các chứng chỉ ISO 9001:2008, BAP, BRC, HACCP, IFS, GAP về bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, số lượng DN có chứng nhận đủ điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm theo quy định của Việt Nam chưa nhiều. Điều này cho thấy, DN cần đầu tư công nghệ, tăng cường quản lý nguồn nguyên liệu để nâng cao chất lượng, đảm bảo quy định của thị trường quốc tế.
Một số đề xuất, kiến nghị
Ngành Thủy sản của vùng KTTĐ miền Trung muốn tăng trưởng và phát triển cần có những định hướng từ phía Chính phủ và chính quyền địa phương. Những định hướng này phải là tổng hợp, liên kết chứ không phải phát triển riêng lẻ của từng địa phương. Cụ thể:
Đối với Chính phủ
- Tăng cường hơn nữa sự quản lý của Nhà nước, của các cấp chính quyền trong việc quy hoạch, xây dựng, điều hành và phát triển của các địa phương đảm bảo mức độ logic, tương thích, thống nhất, đồng bộ để gắn kết các tỉnh trong vùng thành thể thống nhất. Cần xây dựng một cơ chế điều phối cấp vùng để điều hành hoạt động nhằm phối hợp, liên kết ngành Thủy sản của các tỉnh trong vùng với nhau để tăng sức cạnh tranh.
- Tuyên truyền, giáo dục nâng cao sự hiểu biết của nhân dân về chiến lược phát triển kinh tế biển để mỗi ngư dân là một chiến sĩ bảo vệ lãnh hải quốc gia bằng nhiều hình thức và biện pháp tuyên truyền khác nhau; Xây dựng kế hoạch quản lý tốt đội tàu khai thác, đánh bắt trên biển, cần tiếp cận với cơ sở để nắm bắt những thông tin kịp thời, gần gũi với đời sống của nhân dân.
- Giảm dần tỷ trọng xuất khẩu của nhóm sản phẩm thô chưa qua chế biến, tăng dần xuất khẩu sản phẩm tinh chế. Chính phủ cũng cần có chính sách khuyến khích đầu tư vào các ngành sản xuất chế biến để tận dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và đồng thời làm tăng giá trị gia tăng cho hàng hóa xuất khẩu.
- Đẩy mạnh áp dụng các công nghệ tiên tiến, công nghệ sạch và quản lý chặt chẽ quy trình sản xuất, nhằm hạn chế tối đa mức độ ô nhiễm môi trường, cũng như hủy hoại nguồn lợi thủy sản vùng...
Đối với Ban chỉ đạo vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
- Tiếp tục đầu tư phát triển các ngành Thủy sản từ nuôi trồng, khai thác và đánh bắt nhằm tận dụng những lợi thế so sánh của vùng; Cần có sự đầu tư ở mức độ chuyên sâu để tăng năng suất, chất lượng và giá trị cho sản phẩm xuất khẩu.
- Hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng cũng như thiết bị nghề cá theo hướng hiện đại; Nâng cấp, điều chỉnh cơ sở hạ tầng các cảng, nâng cao năng lực quản lý cảng cho các ban quản lý; Áp dụng công nghệ hiện đại trong khai thác, bảo quản, sản xuất thủy sản nhằm giảm mức hư hỏng cũng như giảm giá trị của sản phẩm sau quá trình sản xuất, đưa các phương tiện và ngư cụ khai thác hiện đại để nâng cao hiệu quả kinh tế và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
- Tạo điều kiện DNXK thủy sản thâm nhập vào thị trường cũng như chuỗi các DN sản xuất và xuất khẩu thủy sản ở mức độ cao hơn.
Đối với lãnh đạo tỉnh, thành phố trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
- Hỗ trợ nhiều hơn cho các DN về mặt tiếp cận các văn bản quy chuẩn của Chính phủ và của thị trường tiềm năng.
- Có chính sách hỗ trợ các DN nâng cao nguồn lực, cụ thể tạo điều kiện cho DN tiếp cận được các nguồn vốn để tăng quy mô nâng cao chất lượng sản phẩm; đầu tư cho đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao trình độ chuyên môn, cũng như các kỹ năng mềm.
- Có những khuyến khích và định hướng các cơ sở giáo dục trong xây dựng và điều chỉnh các chuyên ngành đào tạo phù hợp với nhu cầu lao động ngành Thủy sản.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Công Thương (2019), Tình hình xuất khẩu của Việt Nam năm 2018, Hà Nội;
2.Cục Thống kê Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa Thiên - Huế (2019), Xuất khẩu thủy sản Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa Thiên - Huế 2012-2016;
3. Tổng cục Hải quan (2018), Báo cáo số cơ sở chế biến thủy sản được chứng nhận đủ điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm theo quy định của Việt Nam, Hà Nội;
4. VASEP (2019), Báo cáo doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản uy tín năm 2018, Hà Nội;
5 Michael Porter (1998), Competitive advantage: creating and sustaining superior performance, Hardcover.
Người Việt hay nói “trước thềm năm mới”. Với người làm biển, đó là khoảnh khắc đứng ở mũi thuyền khi trời còn lờ mờ sáng; với người nuôi trồng, là lúc đi dọc bờ ao, nhìn mặt nước yên hay gợn. Một khoảnh khắc rất ngắn, nhưng đủ dài để tự hỏi: năm tới, mình sẽ đối đãi với nước, với biển như thế nào?
(vasep.com.vn) Trong bối cảnh nuôi trồng thủy sản toàn cầu ngày càng chịu áp lực từ yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, cá rô phi đơn tính đực đang được xem là một giải pháp công nghệ quan trọng, mở ra hướng đi mới cho ngành nuôi cá rô phi tại nhiều quốc gia.
(vasep.com.vn) Năm 2025 đánh dấu bước tăng trưởng mạnh của ngành cá minh thái Nga khi sản lượng cung ứng cho thị trường nội địa đạt mức cao kỷ lục 271 nghìn tấn, tăng 7% so với năm 2024. Theo Hiệp hội các doanh nghiệp khai thác cá minh thái Nga (ADM), đây là mức cao nhất từ trước tới nay, đồng thời cho thấy sự chuyển dịch rõ rệt trong chiến lược phát triển thị trường trong nước đối với loài cá chủ lực này. Kể từ năm 2013, khối lượng cá minh thái tiêu thụ nội địa đã tăng gần 4,5 lần.
(vasep.com.vn) Trong tháng 1, Na Uy xuất khẩu thủy sản đạt 14,8 tỷ NOK, giảm 3% so với cùng kỳ năm ngoái, dù sản lượng xuất khẩu của nhiều mặt hàng ghi nhận mức tăng. Diễn biến này cho thấy các yếu tố như giá bán giảm, biến động tiền tệ và rào cản thương mại đang tác động ngày càng rõ tới ngành thủy sản Na Uy.
(vasep.com.vn) Năm 2026 được dự báo sẽ là thời điểm ngành thủy sản toàn cầu trải qua những thay đổi sâu rộng, khi các xu hướng về công nghệ, hành vi tiêu dùng và dịch chuyển nhân khẩu học cùng lúc tác động đến toàn bộ chuỗi giá trị. Theo đánh giá của Hội đồng Thủy sản Na Uy (NSC), ngành đang bước ra khỏi giai đoạn tăng trưởng truyền thống để tiến vào một chu kỳ phát triển mới, mang tính chuyển đổi toàn diện.
(vasep.com.vn) Việc tăng cường giám sát tôm nhập khẩu là một trong những ưu tiên hàng đầu của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) trong năm 2026. Gần đây, cơ quan này đã công bố một loạt lĩnh vực trọng tâm sẽ triển khai trong năm tới.
(vasep.com.vn) Tập đoàn thủy sản Norebo có trụ sở tại Murmansk (Nga) đã chính thức thua kiện trong vụ tranh chấp pháp lý với chính quyền Na Uy liên quan đến hạn ngạch và giấy phép khai thác thủy sản tại vùng đặc quyền kinh tế của nước này. Vụ việc được Tòa án quận Oslo xem xét và phán quyết theo hướng có lợi cho phía Na Uy.
(vasep.com.vn) Hội đồng Quản lý Nuôi trồng Thủy sản (ASC) xác nhận chương trình chứng nhận của tổ chức này tại Trung Quốc sẽ hết hiệu lực vào năm 2027, buộc nhiều doanh nghiệp đang được chứng nhận phải chuyển hướng trong thời gian tới. ASC đã bắt đầu rút dần hoạt động từ tháng 3/2024 và đóng cửa văn phòng tại Trung Quốc sau khi tiến hành rà soát chiến lược về hoạt động và thị trường. Theo ASC, quyết định này nhằm tập trung nguồn lực hạn chế vào những khu vực và thị trường có thể tạo ra tác động lớn hơn, đồng thời để ngỏ khả năng điều chỉnh trong các đánh giá tương lai.
(vasep.com.vn) Năm 2025, xuất khẩu ghẹ của việt Nam đạt gần 86 triệu USD, tăng gần 6% so với năm 2024.
(vasep.com.vn) Vào tháng 8/2025, Cơ quan Nghề cá của Cục Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia Hoa Kỳ (NOAA Fisheries) đã công bố một thông báo trên Công báo Liên bang về Quyết định Xác định Khả năng so sánh nghề cá năm 2025 theo các Điều khoản Nhập khẩu của Đạo luật Bảo vệ Động vật biển có vú (MMPA).
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn