Theo Bộ NN-PTNT, trong giai đoạn 2013–2018, công nghiệp chế biến nông sản cả nước đã có bước phát triển mạnh trên cả quy mô và mức độ hiện đại so với 5 năm trước đó (2007 - 2012), với tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng hằng năm đạt khoảng 5-7%. Nhờ đó, kim ngạch xuất khẩu nông sản tăng mạnh, bình quân tăng khoảng 8-10%/năm. Năm 2019 đạt mức kỷ lục 41,3 tỷ USD.
Với sự phát triển của chế biến nông sản trong nhiều năm qua, ở nước ta đã hình thành hệ thống công nghiệp chế biến nông sản với số lượng và chất lượng ngày càng cao. Hệ thống công nghiệp chế biến bảo quản nông sản hiện có trên 7.500 cơ sở quy mô công nghiệp gắn với xuất khẩu và hàng vạn cơ sở chế biến nông sản nhỏ, lẻ, hộ gia đình.
Trong 10 năm trở lại đây, cơ giới hóa nông nghiệp và công nghiệp chế biến nông sản của nước ta đã có những bước tiến đáng kể. Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng của công nghiệp chế biến nông sản đạt khoảng 5-7%/năm. Đã hình thành và phát triển hệ thống công nghiệp chế biến nông sản có công suất thiết kế đảm bảo chế biến khoảng 120 triệu tấn nguyên liệu nông sản/năm. Nhờ đó, đã nâng cao năng suất và giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp, tạo tiền đề quan trọng để xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, ứng dụng công nghệ cao, góp phần đáng kể vào tăng trưởng chung của toàn ngành.
Một số ngành hàng hoặc một số sản phẩm hiện đã có công nghệ và thiết bị chế biến tương đối hiện đại mang tầm của khu vực và thế giới, như chế biến hạt điều, cà phê, chế biến lúa gạo, tôm, cá tra.
Có thể nói, sự phát triển của công nghiệp chế biến nông sản đã góp phần làm chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu sản xuất nông nghiệp, từ nền nông nghiệp tự cung, tự cấp tiến lên nền nông nghiệp phát triển đa dạng theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hóa lớn nhằm cung cấp nguyên liệu đầu vào cho chế biến, phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng nội địa.
Công nghiệp chế biến nông sản đã góp phần phát triển kinh tế khu vực nông thôn và xây dựng nông thôn mới. Các nhà máy chế biến nông, lâm, thủy sản phần lớn được xây dựng ở khu vực nông thôn, các vùng sâu, vùng xa, đã đóng góp tích cực trong cải thiện bức tranh kinh tế - xã hội nông thôn. Cụ thể: Hình thành các thị trấn, thị tứ tại khu vực xây dựng các nhà máy chế biến; giải quyết việc làm trực tiếp cho khoảng 1,6 triệu lao động mà phần lớn là con em nông dân, với mức thu nhập bình quân 5-7 triệu đồng/tháng; góp phần quan trọng cho xóa đói giảm nghèo ở nông thôn.
Nhiều ngành hàng trong lĩnh vực chế biến nông sản đã hội nhập rất tốt với kinh tế thế giới. Sản phẩm chế biến nông sản Việt Nam đã xuất khẩu tới trên 180 nước và vùng lãnh thổ, kể cả thị trường khó tính như thị trường EU, Mỹ, Nhật Bản.
Tuy liên tục phát triển trong nhiều năm qua, nhưng trình độ công nghệ chế biến nông sản ở nước ta hiện mới chỉ ở mức độ trung bình của thế giới. Trình độ công nghệ chế biến nhìn chung ở mức độ trung bình của thế giới; nhiều cơ sở chế biến của nhiều ngành hàng có tuổi đời trên 15 năm (chiếm trên 70%) với thiết bị cũ, công nghệ lạc hậu, năng suất thấp (chè, cao su, sắn); hệ số đổi mới thiết bị chỉ ở mức 7%/năm (bằng 1/2 - 1/3 mức tối thiểu của các nước khác).
Phần lớn các doanh nghiệp chưa chủ động được nguồn cung nguyên liệu đảm bảo về số lượng, chất lượng phục vụ chế biến. Liên kết giữa các khâu trong chuỗi giá trị sản xuất - chế biến - tiêu thụ của các ngành hàng phần lớn thiếu chặt chẽ (ngoại trừ một số ngành hàng đã tổ chức tốt khâu chế biến gắn với sản xuất nguyên liệu như mía đường, cá tra, tôm).
Khả năng chế biến đối với một số ngành hàng còn yếu, chưa sử dụng hết công suất chế biến, chưa đáp ứng được nhu cầu, nhất là vào cao điểm của mùa vụ như rau quả, thịt (số lượng đưa vào chế biến chỉ chiếm 5-10% sản lượng); mía đường, lúa gạo, cà phê, tiêu, điều, sắn, thủy sản (gây tổn thất sau thu hoạch).
Tổn thất sau thu hoạch còn lớn (10-20%) do thiếu cơ sở vật chất bảo quản đáp ứng yêu cầu (rau, quả, sắn đáp ứng được 20-30%; cà phê, tiêu, điều, chè 10-15%; thủy sản đánh bắt 15-20%; lúa gạo 5-7%).
Sản phẩm chế biến chủ yếu vẫn là sơ chế có giá trị gia tăng (GTGT) thấp, chiếm 70-85%. Sản phẩm chế biến có GTGT cao mới chiếm khoảng 15-30% (thủy sản khoảng 30%; các loại nông sản khác khoảng 10-20%; sản phẩm bao gói nhỏ cung cấp cho bán lẻ chỉ chiếm khoảng 10%).
Cơ chế chính sách hiện chưa đủ hấp dẫn việc đầu tư vào chế biến nông sản. Một số chính sách như đất đai, tài chính, tín dụng, khoa học công nghệ… chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn sản xuất kinh doanh. Nguồn lực để triển khai các chính sách đã ban hành còn hạn chế, nên hiệu quả chính sách không cao.
Trình độ quản lý và tay nghề chuyên môn phục vụ công nghiệp chế biến còn thấp, số lượng qua đào tạo chiếm tỷ lệ rất thấp. Có tới 55,63% số chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống. Có tới 75% lực lượng lao động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật.
Với tầm quan trọng của chế biến nông sản, Bộ NN-PTNT đã đặt ra mục tiêu đến năm 2030, công nghiệp chế biến nông sản Việt Nam đứng trong số 10 nước hàng đầu thế giới, là trung tâm chế biến sâu và logistics nông sản toàn cầu.
Đến 2030, công nghiệp chế biến nông sản Việt Nam đủ năng lực chế biến, đáp ứng yêu cầu của sản xuất nông nghiệp; trình độ công nghệ chế biến, bảo quản chung đạt từ trung bình trở lên; trong đó các ngành hàng nông sản chủ lực đạt trình độ tiên tiến, hiện đại; sản phẩm chế biến đáp ứng tốt các yêu cầu của thị trường tiêu thụ, có khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo chất lượng và an toàn thực phẩm; góp phần nâng cao GTGT và kim ngạch xuất khẩu nông sản Việt Nam.
Cụ thể: Tốc độ tăng giá trị hàng nông sản qua chế biến sâu đạt 7-8%/năm; tỷ trọng sản lượng sản phẩm chế biến sâu, có giá trị gia tăng cao của các ngành đạt từ 30% trở lên; trên 50% số cơ sở chế biến các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực đạt trình độ công nghệ sản xuất tiên tiến; xây dựng, phát triển thành công một số tập đoàn, doanh nghiệp chế biến nông sản có quy mô lớn, hiện đại, năng lực cạnh tranh quốc tế cao.
Để đạt mục tiêu nói trên, Bộ NN-PTNT đã đưa ra các nhóm giải pháp chủ yếu để thúc đẩy phát triển công nghiệp chế biến nông sản.
Trước hết là đẩy mạnh cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng tổ chức sản xuất hàng hóa lớn gắn với lợi thế từng vùng và theo nhu cầu thị trường. Bên cạnh đó là các giải pháp như tổ chức sản xuất nguyên liệu, phát triển các cụm liên kết sản xuất - chế biến và tiêu thụ nông sản. Đẩy mạnh đầu tư vào công nghiệp chế tạo máy, thiết bị phục vụ nông nghiệp, chế biến nông sản, chuyển dịch cơ cấu sản phẩm.
Tăng cường ứng dụng, chuyển giao tiến bộ, khoa học công nghệ vào chế biến, bảo quản nông sản và cơ giới hóa nông nghiệp. Nâng cao chất lượng sản phẩm và đảm bảo an toàn thực phẩm; áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến của thế giới như HACCP, ISO 22000 ... trong tất cả các cơ sở chế biến nông sản để đảm bảo chất lượng và an toàn thực phẩm; xây dựng và áp dụng hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn quốc gia, truy xuất nguồn gốc cho các ngành hàng nông sản.
Đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển thị trường. Đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nghiên cứu, thực hiện cơ chế, chính sách phát triển nhân lực phục vụ công nghiệp chế biến nông sản và cơ giới hóa nông nghiệp. tiếp tục đổi mới và hoàn thiện cơ chế chính sách.
(vasep.com.vn) Sản lượng khai thác thủy sản của đội tàu Argentina đạt 486.678 tấn trong 6 tháng đầu năm 2026, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước, nhờ sự tăng trưởng của tôm đỏ Argentina và cá hake, bù đắp sự sụt giảm của nghề khai thác mực.
(vasep.com.vn) Theo báo cáo mới nhất của FAO, sản lượng thủy sản và nuôi trồng thủy sản toàn cầu năm 2024 đạt mức cao kỷ lục, trong đó nuôi trồng thủy sản tiếp tục khẳng định vai trò là nguồn cung chính cho tiêu dùng của con người. Diễn biến này đánh dấu bước chuyển quan trọng của hệ thống thực phẩm toàn cầu, khi tăng trưởng nguồn cung thủy sản ngày càng phụ thuộc vào nuôi trồng thay vì khai thác tự nhiên.
(vasep.com.vn) Peru đang coi đào tạo kỹ thuật là một trong những giải pháp trọng tâm nhằm thúc đẩy tăng trưởng ngành nuôi trồng thủy sản và nâng cao thu nhập cho người dân vùng ven biển, miền núi và khu vực Amazon. Thông qua Quỹ Phát triển Nghề cá Quốc gia (FONDEPES), Bộ Sản xuất Peru (PRODUCE) đã triển khai hàng loạt chương trình đào tạo dành cho nông dân, người nuôi thủy sản và sinh viên trên khắp cả nước.
(vasep.com.vn) Thị trường tôm Trung Quốc chưa ghi nhận sự phục hồi về giá đối với tôm thẻ chân trắng Ecuador, mặc dù Hải quan Trung Quốc đã tạm ngừng nhập khẩu sản phẩm từ 7 nhà máy chế biến của Ecuador. Trong khi đó, giá tôm đỏ Argentina vẫn duy trì ổn định nhờ nguồn cung hạn chế và thuộc phân khúc tiêu dùng khác biệt.
(vasep.com.vn) Trong những tháng đầu năm 2026, NK cá ngừ của Italy giảm nhẹ, nhưng cá ngừ Việt Nam lại đang giảm rất sâu tại đây. 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sang Italy chỉ đạt hơn 5 triệu USD, giảm tới 71% so với cùng kỳ năm ngoái. Nhìn vào diễn biến nhập khẩu của chính thị trường này, có thể thấy vấn đề không nằm hoàn toàn ở sức mua, mà nằm nhiều hơn ở sức cạnh tranh và khả năng giữ nhịp đơn hàng của cá ngừ Việt Nam.
(vasep.com.vn) Trong khuôn khổ Hội chợ Vietfish 2026, Chương trình Kết nối cung-cầu thủy sản quốc tế (Hosted Buyer Program) được thiết kế như một hoạt động kết nối B2B chuyên sâu, dành cho các nhà mua hàng quốc tế đã được tuyển chọn, nhằm tạo cơ hội gặp gỡ trực tiếp với doanh nghiệp thủy sản Việt Nam, cập nhật thông tin thị trường và trải nghiệm thực tế chuỗi cung ứng thủy sản tại Việt Nam.
(vasep.com.vn) Hội đồng Quản trị của Hội đồng Quản lý Nuôi trồng Thủy sản (ASC) vừa bổ nhiệm Stefanie Rog và Steve Philips nhằm tăng cường chuyên môn về bảo tồn môi trường và chuỗi cung ứng thủy sản. Stefanie Rog chính thức đảm nhiệm vị trí từ ngày 1/7/2026, còn Steve Philips gia nhập hội đồng từ ngày 1/1/2026.
(vasep.com.vn) Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia Mỹ (NOAA) vừa cấp hơn 3,8 triệu USD cho 41 tổ chức và hai bộ tộc của người bản địa Mỹ tại 19 bang nhằm hỗ trợ hoạt động cứu hộ động vật có vú biển mắc cạn hoặc bị mắc lưới.
(vasep.com.vn) Một nhóm thượng nghị sĩ miền Nam nước Mỹ đang đề nghị Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) sử dụng cơ chế mua hàng khẩn cấp để hỗ trợ ngành cá da trơn nuôi trong nước, trong bối cảnh ngành này ghi nhận kết quả tài chính âm 3 năm liên tiếp do chi phí sản xuất tăng cao kéo dài.
(vasep.com.vn) Chất lượng đậu nành đang trở thành yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả và chi phí sản xuất thức ăn thủy sản. Tại Hội nghị Thức ăn Thủy sản Indonesia 2026, các chuyên gia nhận định khả năng tiêu hóa dinh dưỡng và mức độ hư hại do nhiệt sẽ ngày càng ảnh hưởng đến công thức thức ăn cũng như chiến lược lựa chọn nguồn nguyên liệu.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn