Giá thành tôm nuôi phụ thuộc nhiều yếu tố. Yếu tố dễ nhìn ngay là giá cả đầu vào gồm con giống, thức ăn, khoáng chất, điện, vật tư…Yếu tố sâu xa không thể không tính đến là tỉ lệ thu hồi tôm trên từng ao, tỉ lệ ao đạt trong số ao đã đầu tư của từng hộ, từng trang trại.
Cơ cấu giá thành từng hộ nuôi khác nhau do quy trình nuôi, do mật độ thả nuôi, do cỡ con thu hoạch… Nuôi quảng canh cải tiến có giá thành thấp nhất vì cơ bản chỉ đầu tư con giống, nhưng lợi nhuận chung có hạn. Nuôi thâm canh giá thành cao, tỉ suất lợi nhuận thấp hơn nhưng tổng lợi nhuận nhiều hơn. Nếu nuôi thu cỡ con nhỏ 70-100 con/kg thì tỉ lệ thức ăn thấp trong cơ cấu giá thành, bởi hệ số thức ăn (FCR) giai đoạn này chỉ là 1, và khoảng tôm lớn sau đó FCR có thể tới 1,5. Cho nên nói giá thành tôm nuôi Việt ra sao và so sánh thế nào với giá thành tôm nuôi một số nước khác vô cùng phức tạp, đâu phải dễ nhìn.
Tuy nhiên, tôi lấy cơ cấu giá thành của một trang trại ở Sóc Trăng, trong điều kiện nuôi trúng, tỉ lệ thu hồi trên ao, tỉ lệ đạt ao trên trang trại đều trên 80%, làm tiền để để nhận xét và tìm giải pháp giảm giá thành. Quy trình nuôi ở đây là thâm canh, thức ăn chiếm 41%, con giống 7%, điện 7%, nhân công 8%. Quy trình này thay nước liên tục nên khoáng và hóa chất chiếm 11%. Nhìn cơ cấu này, sẽ thấy tiết kiệm thức ăn sẽ mang lại lợi ích nhiều nhất. Tuy nhiên hệ số FCR ở đây chỉ 1,3. Với hệ số này và tôm thu trung bình 50-55 con thì hợp lý. Cũng có thể tiết kiệm thức ăn nhưng chắc chắn không quá 5% để không ảnh hưởng sức lớn của đàn tôm. Yếu tố chú ý tiếp theo là điện. Có thể tiết kiệm điện qua nuôi hai giai đoạn đến 2 tháng, mức tiết kiệm có thể tới 30% tổng chi phí, như vậy sẽ tiết kiệm khoảng 2% giá thành so nuôi chỉ một giai đoạn. Khi nuôi hai giai đoạn kéo theo tiết kiệm một phần khoáng hóa chất (xử lý nước), có thể tiết kiệm 2%. Trong các yếu tố còn lại hình thành giá thành khó tiết kiệm hơn.
Do thức ăn chiếm tỉ trọng cao gần phân nữa giá thành, tập trung phân tích yếu tố này. Nhìn các nước nuôi tôm chung quanh ta, giá thức ăn tôm xoay quanh 1USD mỗi kg. Mua trả tiền ngay có thể rẻ hơn 10-15%. Giá thức ăn tôm ở VN cũng quanh quẩn giá này. Nếu đại lý cấp I, còn rẻ hơn khoảng 10% sau khi khấu trừ các nguồn thưởng. Đa phần các hộ nuôi tôm Việt thiếu vốn, mua thức ăn tôm qua thương lái, ứng trước. So giá gốc, bị đội lên 20-30%. Như vậy, chỉ yếu tố thức ăn làm giá thành tôm Việt cao khoảng 15% rồi.
Một chuyên gia nuôi tôm giỏi tổng kết các yếu tố tác động kết quả nuôi Nhất giống, nhì môi, tam mồi, tứ kỹ! Một đồng nghiệp tôi cũng khá am tường nuôi tôm cho rằng Nhất giống, nhì quy, tam tài, tứ chính! Tôi không phân tích chi tiết, chỉ chú trọng là cả hai đều cho rằng con giống là yếu tố quyết định nhất cho vụ nuôi thành công. Dân gian không biết lấy gì làm số thống kê cũng kháo nhau là con giống quyết định trên 50% thành công ao nuôi. Chỉ chiếm 7% giá thành, nhưng con giống lại tác động bậc nhất trong ao nuôi. Cho nên, nếu suy nghĩ sâu xa, đây là yếu tố quyết định làm giảm giá thành tôm nuôi mạnh nhất. Thí dụ tôm giống chất lượng trung bình, đạt tỉ lệ thu hồi 50%, số ao đạt cũng 50%. Nếu tôm giống chất lượng cao tất cả đạt 70% thì rõ ràng giá thành chung của hộ hoặc trang trại nuôi tôm đó giảm hơn 20%.
Trên mạng tôi đọc một thông tin giá thành tôm thẻ chân trắng cỡ 40 con của Ấn Độ khoảng 4USD/kg. Kỳ lạ là giá bán của các nhà máy chế biến Ấn Độ cũng chỉ tăng nhẹ so giá đó (chứng tỏ người nuôi ở Ấn Độ có lợi nhuận thấp). Ấn Độ nuôi mật độ thưa và tỉ lệ tôm trúng khá cao. Tôi lấy giá thành nuôi tôm của ta, ở trang trại Sóc Trăng nói trên. Giá thành tôm diễn tiến ở mức 100 con/ 70 con/ 40 con là khoảng 90.000 đồng/ 70.000 đồng/ 60.000 đồng. Giá mua của các cơ sở chế biến ta đang phổ biến 81.000/ 86.000/ 123.000. Như vậy, nuôi tôm cỡ càng lớn, giá thành tôm càng rẻ và giá bán càng cao. Tôm Việt, nếu nuôi trúng đạt tỉ lệ từ 70%, gía thành sẽ không cao, thậm chí còn thấp hơn Ấn Độ.
Tóm lại, diễn biến thời gian qua đầy phức tạp. Một thời tôm nuôi đạt đầu con thì một lời một. Nhưng khoảng thời gian dài (2010-2015) tôm nuôi Việt bị dịch bệnh EMS làm thiệt hại trầm trọng, đa phần người nuôi mất vốn. Từ đó, họ mua vật tư gối đầu từ thương lái, chi phí đội giá ít ra 15% (con giống, thức ăn) trên tổng giá thành. Con giống chất lượng cao chưa phủ nhu cầu cộng với nguồn nước cấp đầy rẫy rủi ro khiến tỉ lệ thu hồi thấp. Dù chưa thống kê đầy đủ, nhưng chắc tính chung chỉ đạt khoảng 50%. Tất cả làm cho giá thành tôm nuôi Viêt bị đội giá quá nhiều. Để chuyển đổi tình hình này:
+ Con giống chất lượng cao là yếu tố tác động lớn nhất, cần có sự lo toan, cung ứng tốt hơn.
+ Vốn cho người nuôi tôm: Chính phủ sao có chính sách linh hoạt gỡ điểm thắt này nhằm giúp người nuôi giảm thiểu chi phí.
+ Giải pháp kỹ thuật cho tiết giảm điện, khoáng hóa chất thông qua quy trình nuôi nhiều giai đoạn. Và cố gắng nuôi tôm thu ở cỡ con càng lớn càng hiệu quả.
Bài viết này, chắc chắn còn nhiều điểm chưa hoàn thiện, chỉ muốn nêu lên cái nhìn qua góc nhìn riêng có thời gian dài gắn bó con tôm. Mong mọi sự góp ý.
Hồ Quốc Lực - Nguyên Chủ tịch VASEP, Chủ tịch HĐQT FIMEX VN
Ghi chú: Nhất giống, nhì môi, tam mồi, tứ kỹ: Con giống, môi trường, thức ăn, kỹ thuật. Nhất giống, nhì quy, tam tài, tứ chính: Con giống, quy trình, tài chánh, chính quyền.
Sáng 13/7, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng dẫn đầu đoàn công tác của Chính phủ làm việc tại An Giang, khảo sát hoạt động của Công ty Cổ phần Rau quả thực phẩm An Giang (Antesco) và Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu thủy sản Cửu Long An Giang. Phó Thủ tướng yêu cầu địa phương sớm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, tăng cường liên kết vùng nguyên liệu, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số và truy xuất nguồn gốc nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản, thủy sản Việt Nam.
(vasep.com.vn) Tại buổi chia sẻ trực tuyến về “Quản lý thức ăn và hội chứng phân trắng”, các chuyên gia cho rằng hội chứng phân trắng (WFS) không phải là bệnh do một tác nhân đơn lẻ mà là hội chứng phức hợp, hình thành từ sự tương tác giữa vi khuẩn cơ hội, ký sinh trùng, dinh dưỡng và điều kiện môi trường ao nuôi.
(vasep.com.vn) Thức ăn chiếm 50-60% tổng chi phí nuôi tôm, nhưng hiệu quả quản lý cho ăn còn ảnh hưởng đến hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) nhiều hơn cả chất lượng thức ăn. Theo các chuyên gia, quản lý cho ăn có thể quyết định tới 65-75% biến động của FCR, trở thành yếu tố then chốt nâng cao hiệu quả kinh tế và tính bền vững của mô hình nuôi tôm ngoài trời.
(vasep.com.vn) Sau Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu nông lâm thủy sản, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu năm 2026, các địa phương gồm Vĩnh Long, An Giang, Quảng Ngãi, Đồng Tháp và Thanh Hóa đã có văn bản phản hồi một số kiến nghị của VASEP liên quan đến phát triển vùng nguyên liệu nuôi trồng thủy sản và thủ tục xác nhận, chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác đối với nhóm tàu cá quy mô nhỏ dưới 6m.
(vasep.com.vn) Từ ngày 1/7/2026, Quy định sửa đổi (EU) 2024/2895 của Ủy ban châu Âu sửa đổi Quy định (EC) 2073/2005 về tiêu chí vi sinh đối với thực phẩm chính thức có hiệu lực. Quy định này mở rộng trách nhiệm đảm bảo an toàn vi sinh đối với vi khuẩn Listeria monocytogenes trong thực phẩm ăn liền (RTE) từ nhà sản xuất ban đầu sang toàn bộ các chủ thể kinh doanh thực phẩm trong chuỗi cung ứng. Động thái này nhằm ứng phó với số ca nhiễm khuẩn Listeria tại châu Âu năm 2022 tăng 15,9% so với năm 2021, với số ca tử vong do ngộ độc thực phẩm ở mức cao nhất trong 10 năm.
(vasep.com.vn) Các phiên điều trần của Cơ quan Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) về đề xuất áp thuế theo Section 301 liên quan đến lao động cưỡng bức đã cho thấy sự chia rẽ rõ rệt trong ngành thủy sản Mỹ. Trong khi các nhà nhập khẩu cảnh báo chi phí thuế có thể tăng mạnh, các nhà sản xuất tôm và cá da trơn nội địa lại ủng hộ áp thuế cao hơn, thậm chí kêu gọi cấm nhập khẩu đối với một số sản phẩm.
(vasep.com.vn) Liên minh Thủy sản Toàn cầu (GSA) vừa hợp tác với nền tảng ẩm thực Great British Chefs triển khai chiến dịch nâng cao nhận thức về nhãn chứng nhận Thực hành Nuôi trồng Thủy sản Tốt nhất (BAP) đối với đầu bếp và người tiêu dùng.
(vasep.com.vn) Theo số liệu thương mại do Bộ Tài chính Nhật Bản công bố ngày 26/6, xuất khẩu thủy sản của nước này trong tháng 5/2026 đạt 42.716 tấn, giảm 2% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu lại tăng mạnh 41%, lên 33,58 tỷ yên (khoảng 208 triệu USD), phản ánh xu hướng giá thủy sản tăng cao trên thị trường quốc tế.
(vasep.com.vn) Xuất khẩu các sản phẩm surimi của Nhật Bản tiếp tục tăng nhờ nhu cầu quốc tế gia tăng tại Bắc Mỹ, Trung Mỹ, châu Âu, Trung Đông và Đông Nam Á. Theo thống kê thương mại của Bộ Tài chính Nhật Bản, khối lượng xuất khẩu surimi, bao gồm các sản phẩm như kamaboko (chả cá hấp) nhưng không tính xúc xích cá, đạt 4.186 tấn trong 5 tháng đầu năm 2026, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước.
(vasep.com.vn) Ấn Độ đã đề nghị Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) rút đề xuất áp thuế bổ sung 12,5% đối với hàng hóa nhập khẩu từ nước này liên quan đến cuộc điều tra theo Điều khoản 301 về các vấn đề thương mại và lao động cưỡng bức.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn