ĐBQH Vũ Tiến Lộc: “Chủ doanh nghiệp và người lao động đang trên cùng một con thuyền"

Tiêu điểm 15:01 30/10/2019 708
(vasep.com.vn) Sáng ngày 23/10/2019, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng, Quốc hội họp phiên toàn thể tại hội trường, thảo luận về dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi). Phát biểu tại hội trường, ĐBQH Vũ Tiến Lộc – Đoàn ĐBQH tỉnh Thái Bình đề nghị giữ nguyên quy định về thời giờ làm việc bình thường và kiến nghị mở rộng khung thỏa thuận thời giờ làm thêm đối với một số ngành nghề đặc biệt.

Về cơ bản, tôi nhất trí với nhiều nội dung trong dự án bộ Luật lao động bổ sung sửa đổi lần này. Nếu được thông qua, dự luật sẽ tạo ra bước đột phá mới trên hai hướng: bao trùm hơn và hội nhập hơn. Bao trùm hơn, bởi vì, lần đầu tiên Dự luật đã đưa vào đối tượng điều chỉnh cả trên 55 triệu người trong độ tuổi lao động ở nước ta để bảo vệ và thúc đẩy thực hiện một quyền cơ bản được hiến định của người lao động là quyền có việc làm. Hội nhập hơn vì dự luật đã tiếp cận các tiêu chuẩn lao động quốc tế về lao động trẻ em, về lao động cưỡng bức... đã mở đường cho việc thành lập các tổ chức đại diện cho người lao động ở cơ sở ngoài hệ thống tổ chức của Tổng liên đoàn. Đó là yêu cầu phát triển tự thân của thị trường lao động ở nước ta và cũng là để tuân thủ các cam kết hội nhập.

Những đột phá này trong dự luật đã nhận được sự đồng thuận rất cao của các vị đại biểu Quốc hội. Điều này cho thấy tinh thần đổi mới, hội nhập luôn là tâm thế của Quốc hội nước nhà.

Về những điểm còn ý kiến khác nhau, tôi xin được nêu 3 vấn đề:

1. Vấn đề thời gian làm việc bình thường, tôi đề nghị giữ nguyên theo quy định hiện hành

Đây là quy định phù hợp với thực tiễn của nền kinh tế và rất nhân văn. Chúng ta quy định linh hoạt rằng thời gian làm việc tối đa là 48h trong 1 tuần và Nhà nước khuyến khích thực hiện tuần làm việc ít hơn 44h hoặc 40h tuỳ thuộc điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và sự thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động. Quy định này hợp lý, hợp tình bởi các lý do sau:

Thứ nhất, hầu hết các quốc gia có trình độ phát triển tương tự như nước ta và đang là đối thủ cạnh tranh trực tiếp với chúng ta, đều quy định thời gian làm việc 48h. Chúng ta thì mới chỉ vừa mới thoát khỏi ngưỡng nghèo, và mới là nước có thu nhập trung bình ở trình độ thấp. Năng suất lao động thậm chí còn đang ở mức thấp nhất trong khu vực, thì chúng ta áp dụng mức thời gian lao động như các nước xung quanh là phù hợp. Rút ngắn hơn nữa thời gian lao động sẽ làm suy giảm năng lực cạnh tranh quốc gia, gây trở ngại cho việc thực hiện các mục tiêu tăng trưởng và khó đưa nước ta thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, nguy cơ lớn nhất đối với tương lai của nền kinh tế Việt Nam.

Thứ hai, giảm thời gian lao động sẽ dẫn tới giảm tiền lương và sẽ làm chậm lại các kế hoạch tăng lương cho người lao động trong những năm tới. Bởi vì, lương tối thiểu hiện tại được các bên nhất trí và Hội đồng tiền lương quốc gia đã thông qua, là mức lương tối thiểu được quy định cho tuần làm việc 48h. Nếu giảm xuống 44h hay 40h thì chắc chắn phải tính toán lại mức lương này cho phù hợp với sức chịu đựng của nền kinh tế.

Thứ ba, do năng suất lao động thấp, nên tiền lương và thu nhập của phần lớn người lao động vẫn chưa cao, nên nếu giảm thời gian làm việc thì đồng nghĩa với việc giảm thu nhập và người lao động vẫn phải tìm thêm việc làm để có thêm thu nhập, mà chủ yếu tại khu vực phi chính thức với nhiều hệ lụy khó lường.

Kết quả cuối cùng là, giảm giờ làm trong bối cảnh hiện nay sẽ không mang lại lợi ích cho người lao động. Mặt khác, khi chi phí lao động của doanh nghiệp tăng lên, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ giảm sút. Nhiều doanh nghiệp sẽ phải thu hẹp sản xuất và người lao động sẽ mất việc làm.

Thứ tư, để duy trì sản xuất trong điều kiện giảm giờ làm thì doanh nghiệp buộc phải tuyển thêm lao động, nhưng trong điều kiện thị trường lao động hiện nay, khi tỷ lệ thất nghiệp đang rất thấp, thì các doanh nghiệp rất khó tuyển thêm lao động và do vậy, họ buộc phải thu hẹp sản xuất. Theo tính toán sơ bộ, chỉ riêng với các ngành thuỷ sản, dệt may, da giầy, túi xách, điện tử, lương thực, thực phẩm... nếu giảm giờ làm việc 4h trong 1 tuần có thể dẫn đến giảm sản lượng và kim ngạch xuất khẩu ít nhất 20 tỷ USD hàng năm. Điều này ảnh hưởng tức thời tới xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế của đất nước. Các doanh nghiệp FDI cũng sẽ tìm tới các nền kinh tế có chi phí lao động thấp hơn để chuyển hướng đầu tư. Việt Nam sẽ khó duy trì được tốc độ tăng trưởng của dòng vốn đầu tư FDI như kỳ vọng, thậm chí có thể xẩy ra tình trạng thoái lui trong đầu tư.

Thứ năm, có ý kiến lập luận rằng, giảm thời gian làm việc tại doanh nghiệp sẽ bảo đảm công bằng với khu vực Nhà nước. Nghe qua có vẻ có lý và mang ý nghĩa nhân văn. Tuy nhiên, nếu suy ngẫm kỹ, chúng ta sẽ thấy không thoả đáng, vì hai khu vực này đang không được đặt trên cùng một mặt bằng thu nhập và tiền lương. Chúng ta đều biết, hiện tại, tiền lương tối thiểu của doanh nghiệp tại khu vực Hà Nội đã là gần 4,2 triệu đồng/tháng và đang tăng lên rất nhanh. Trong khi đó, tiền lương cơ sở trong khu vực Nhà nước chỉ ở mức chưa đến 1,5 triệu đồng và tăng rất chậm. Lương của một công chức - kỹ sư mới ra trường không bằng lương của một lao động chưa qua đào tạo ở doanh nghiệp. Vậy nên, rút ngắn thời gian làm việc tại doanh nghiệp về mức của khu vực nhà nước là một yêu cầu có phần khập khiễng trong bối cảnh hiện nay.

2. Về thời gian làm thêm, tôi ủng hộ phương án 2, nới rộng có chừng mực khung thoả thuận thời giờ làm thêm

Theo đó, đối với một số ngành nghề đặc biệt thì thời gian làm thêm sẽ không quá 400h một năm. Đây là khung giờ để người sử dụng lao động và người lao động tự thoả thuận với nhau. Người lao động có quyền lựa chọn làm thêm hoặc từ chối làm thêm và cũng chỉ giới hạn với rất ít một số ngành nghề đặc thù và ở lúc mùa vụ cao điểm.

Tôi nhất trí với phương án này bởi những lý do sau đây:

Thứ nhất, tổng số thời gian làm thêm theo thoả thuận của doanh nghiệp Việt Nam đang bị hạn chế ở mức 200h, 300h/ 1 năm là thấp hơn nhiều so với các quốc gia đang cạnh tranh lao động với Việt Nam trong khu vực như Bangladesh là 408h,Trung Quốc là 432h, Hàn Quốc là 624h, Indonesia là 728h…

Thứ hai, thời gian làm thêm theo quy định hiện hành là không phù hợp với tính chất thời vụ của những ngành nghề đặc thù. Ví dụ, đối với ngành thuỷ sản (mà tôm là một ví dụ điển hình), nguồn cung ứng nguyên liệu chỉ nhiều nhất trong khoảng 3 đến 5 tháng. Và đây là khoảng thời gian các doanh nghiệp chế biến cần làm thêm giờ để có thể thu mua hết sản phẩm của bà con nông dân. Chuỗi giá trị của ngành thuỷ sản không chỉ liên quan tới 9 vạn lao động trực tiếp của các doanh nghiệp chế biến mà còn liên quan tới công ăn việc làm của gần 5 triệu lao động toàn ngành. Việc không nới rộng thời gian làm thêm của doanh nghiệp chế biến sẽ ảnh hưởng đến sinh kế của hàng triệu hộ nông dân, doanh nghiệp và người lao động tại những vùng còn rất nghèo của đất nước. Bức tranh tương tự cũng diễn ra trong các ngành dệt may, da giầy, túi xách...

3. Về tiền lương làm thêm ở Việt Nam

Theo quy định hiện hành là 150%, 200% và 300%, đang cao hơn so với mặt bằng chung của các nền kinh tế khác trong khu vực như: Nhật Bản là 125% vào ngày thường, 135% vào ngày nghỉ hàng tuần; Đài Loan là 133,3%, Philippines là 125%, thậm chí tiền lương luỹ tiến của Nhật Bản cũng mới chỉ bằng với tiền lương làm thêm giờ của Việt Nam là 150%. Vì vậy, tôi đề nghị giữ nguyên tiền lương làm thêm như quy định hiện hành, không bổ sung thêm các hạn chế theo tuần và tháng. Nếu hạn chế như vậy, thì chúng ta lại vô hiệu hoá khung thời gian làm thêm trên thực tế, gây khó khăn cho cả người lao động và doanh nghiệp và chỉ trao cơ hội cho các đối thủ cạnh tranh trực tiếp với chúng ta.

Làm thêm giờ là “cực chẳng đã” đối với các doanh nghiệp, nhưng cũng là nhu cầu tự nguyện của người lao động. Kết quả khảo sát mới đây của Tổ chức Lao động Quốc tế xác nhận 99% các hợp đồng làm ngoài giờ ở nước ta là có sự thoả thuận tự nguyện của cả hai bên. Tổ chức Lao động Quốc tế cũng cảnh báo một hiện tượng: có tới 70% doanh nghiệp được đánh giá là không tuân thủ đúng giới hạn tăng ca 300h một năm. Điều này phản ánh một thực tiễn: tăng giờ làm thêm nhiều hơn 300h là yêu cầu của cuộc sống và phù hợp với lợi ích của cả người lao động và người sử dụng lao động. Xuất phát từ thực tiễn này, Chính phủ đề xuất về việc tăng giờ làm thêm là phù hợp.

Cuối cùng, tôi muốn nhấn mạnh rằng các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất chế biến nông sản, dệt may, da giầy, điện tử... là những động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế trong những năm đầu của tiên của quá trình công nghiệp hoá. Đó cũng là những ân nhân của của chúng ta trong tạo việc làm, thúc đẩy hội nhập và phát triển, góp phần đưa nước ta thoát khỏi đói nghèo. Đây cũng là khu vực có nhiều doanh nghiệp, doanh nhân được vinh danh là anh hùng lao động, là chiến sỹ thi đua, là doanh nhân tiêu biểu trong thời kỳ đổi mới.

Tuyệt đại bộ phận doanh nghiệp trong ngành là những doanh nghiệp làm ăn chân chính. Phát triển những ngành này vẫn là lợi ích cốt lõi trong hội nhập mà chúng ta đã phải đánh đổi mới có được trong quá trình đàm phán các hiệp định thương mại tự do. Đừng để những lợi ích này vượt khỏi tay chúng ta khi thể chế kinh tế của chúng ta lại bó tay, bó chân các doanh nghiệp. Chúng tôi đề nghị Quốc hội tiếp tục ủng hộ sự phát triển của họ, bằng những quyết sách đúng đắn trên cơ sở tôn trọng quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, quyền có việc làm và được làm thêm để có thêm thu nhập chính đáng của người lao động. Chủ doanh nghiệp và người lao động đang trên cùng chung một con thuyền. Hãy tin ở quyền tự quyết của họ và sức sống của thị trường lao động ở nước ta.

TIN MỚI CẬP NHẬT

Công ty CP Công nghệ 111 Việt Nam trở thành HV liên kết của VASEP từ tháng 3/2026

 |  15:55 13/03/2026

Công ty CP Công nghệ 111 Việt Nam đã chính thức gia nhập Hội viên VASEP từ tháng 3 năm 2026. Xin chúc mừng và chúc Quý doanh nghiệp phát triển bền vững, đồng hành cùng Hiệp hội trong các hoạt động liên kết và nâng tầm thương hiệu thủy sản Việt Nam.

Xung đột Trung Đông làm gián đoạn vận chuyển hải sản Trung Quốc

 |  08:59 13/03/2026

(vasep.com.vn) Việc nhiều quốc gia Trung Đông đóng cửa không phận đã gây phản ứng dây chuyền đối với vận tải hàng không quốc tế, trong đó hải sản tươi là nhóm chịu tác động rõ rệt nhất. Các chuyến bay chở hàng từ châu Âu sang châu Á bị hủy hoặc chuyển hướng, khiến hàng hóa chuỗi lạnh từng trung chuyển qua Doha, Dubai hay Abu Dhabi bị ùn ứ.

Cá rô phi mất vị trí số 1 trong tổng nhập khẩu cá thịt trắng đông lạnh vào Mỹ

 |  08:58 13/03/2026

(vasep.com.vn) Dữ liệu thương mại cả năm 2025 cho thấy xuất khẩu philê cá tra, basa đông lạnh của Việt Nam sang Mỹ đạt khoảng 247,2 triệu pound, vượt mức khoảng 195,3 triệu pound philê cá rô phi đông lạnh của Trung Quốc. Đây là năm thứ hai liên tiếp cá basa dẫn đầu và tiếp tục nới rộng khoảng cách. Trong bối cảnh cá rô phi từng giữ vị trí thống lĩnh lâu dài, diễn biến này cho thấy trọng tâm thị trường đang dịch chuyển.

Nguồn cung phi lê cá Nga vẫn ổn định tại châu Âu dù thuế tăng

 |  08:56 13/03/2026

(vasep.com.vn) Sau khi Liên minh châu Âu (EU) áp thuế và thực hiện một số biện pháp trừng phạt đối với thủy sản Nga, thị trường từng dự báo xuất khẩu philê cá thịt trắng của Nga sang EU sẽ giảm mạnh. Tuy nhiên, dữ liệu thương mại năm 2025 cho thấy nguồn cung không suy giảm đáng kể và vẫn giữ vị trí quan trọng trong chuỗi chế biến của khu vực.

BIDV-SuMi TRUST (BSL): Trợ lực tài chính toàn diện, đồng hành cùng doanh nghiệp thủy sản Việt vươn tầm quốc tế

 |  08:50 13/03/2026

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, ngành Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam liên tục ghi nhận những cột mốc ấn tượng. Tuy nhiên, để giữ vững vị thế tại các thị trường trọng điểm và đáp ứng xu hướng tiêu dùng xanh, các doanh nghiệp bắt buộc phải đầu tư mạnh mẽ vào tự động hóa, công nghệ chế biến sâu và chuỗi cung ứng lạnh. Để giải quyết bài toán vốn đầu tư trung và dài hạn mà không làm ảnh hưởng đến hạn mức tín dụng ngắn hạn thu mua nguyên liệu, Công ty Cho thuê Tài chính TNHH BIDV-SuMi TRUST (BSL) sẵn sàng mang đến những giải pháp tài chính chuyên biệt và tối ưu nhất.

Indonesia được ca ngợi là hình mẫu về nghề cá bền vững tại diễn đàn FAO

 |  09:03 12/03/2026

(vassep.com.vn) Tại một diễn đàn vừa qua của Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) ở Reykjavik, Iceland, Indonesia đã được công nhận là hình mẫu hàng đầu về quản lý nghề cá bền vững, đặc biệt là nghề cá quy mô nhỏ, hôm thứ Tư, theo một tổ chức chứng nhận quốc tế cho biết.

Xung đột tại Trung Đông: Thách thức logistics và tác động tới thị trường tôm toàn cầu

 |  09:02 12/03/2026

(vasep.com.vn) Trung Đông là một trong những khu vực thị trường quan trọng đối với thủy sản Việt Nam, trong đó tôm là một trong các mặt hàng xuất khẩu đáng chú ý. Tuy nhiên, những diễn biến căng thẳng quân sự tại khu vực này từ đầu năm 2026 đang làm dấy lên nhiều lo ngại về nguy cơ gián đoạn thương mại, logistics và chuỗi cung ứng thủy sản toàn cầu. Trong bối cảnh đó, xuất khẩu tôm Việt Nam sang Trung Đông cũng đang chịu những tác động nhất định, đồng thời phản ánh rõ những biến động của thị trường tôm thế giới.

Nhập khẩu tôm EU đạt kỷ lục mới năm 2025, nhu cầu phục hồi rõ rệt

 |  08:57 12/03/2026

(vasep.com.vn) Liên minh châu Âu (EU) ghi nhận mức nhập khẩu tôm cao kỷ lục trong năm 2025, cho thấy nhu cầu thị trường đang phục hồi mạnh mẽ sau giai đoạn biến động trước đó.

Mỹ tăng cường kiểm soát thủy sản nhập khẩu: Doanh nghiệp cần thận trọng với rủi ro kháng sinh, HACCP và truy xuất nguồn gốc

 |  08:53 12/03/2026

(vasep.com.vn) Từ đầu tháng 3/2026 đến nay, các cơ quan quản lý của Hoa Kỳ tiếp tục tăng cường kiểm soát đối với thủy sản nhập khẩu, đặc biệt liên quan đến an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và tuân thủ các quy định về môi trường. Những động thái này cho thấy xu hướng siết chặt các rào cản kỹ thuật đối với thủy sản nhập khẩu vào thị trường Mỹ, đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam.

Brazil mở rộng sản xuất cá rô phi, Mỹ vẫn là thị trường chủ lực

 |  08:43 11/03/2026

(vasep.com.vn) Sản lượng cá nuôi của Brazil đã vượt mốc 1 triệu tấn trong năm 2025, theo Niên giám Nuôi trồng Thủy sản Brazil 2026 do Hiệp hội Peixe BR công bố. Tổng sản lượng đạt 1.011.540 tấn, tăng 4,41% so với năm 2024, qua đó củng cố vị thế của nuôi cá là một trong những ngành tăng trưởng của nông nghiệp Brazil.

VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM

Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội

Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO

Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu

Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông

Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn

Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh

Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn

VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội

Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn

© Copyright 2020 - Mọi hình thức sao chép phải được sự chấp thuận bằng văn bản của VASEP

DANH MỤC