Riêng trong tháng 12/2019, XK hải sản của Việt Nam đạt gần 263,2 triệu USD, giảm 1,7% so với tháng 12/2018. Trong đó, XK cá ngừ đạt 50,5 triệu USD, giảm 9,2%, XK cá biển khác (trừ cá ngừ) đạt trên 147 triệu USD, tăng 20%, XK mực, bạch tuộc đạt 45,5 triệu USD, giảm 30,5% và XK nhuyễn thể hai mảnh vỏ tăng 8% đạt 8,7 triệu USD, XK cua ghẹ và giáp xác khác giảm 30,7% đạt gần 11 triệu USD.
XK hải sản tăng chủ yếu ở các thị trường khác, trong khi XK sang thị trường EU sụt giảm khoảng 10%, trong đó cá ngừ giảm 11,8%, mực, bạch tuộc giảm 19,3% và từ thị trường NK hải sản lớn thứ 2 của Việt Nam, EU đã tụt xuống thứ 5 sau Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc. Kết quả này đã phản ánh hệ lụy của thẻ vàng IUU đối với XK hải sản của Việt Nam trong thời gian qua. EU đang là thị trường NK cá ngừ đứng thứ 2 sau Mỹ, chiếm 19,4% XK cá ngừ Việt Nam. Đối với mực, bạch tuộc EU là thị trường đứng thứ 4 sau Hàn Quốc, Nhật Bản và ASEAN, chiếm 11,6%.
XK mực, bạch tuộc năm 2019 giảm 14,2% đạt 576,7 triệu USD, không chỉ giảm ở thị trường EU mà hầu hết các thị trường NK chính. Nguồn nguyên liệu khan hiếm, khó cạnh tranh với các nguồn cung khác tại các thị trường NK khiến XK liên tục sụt giảm.
Cá ngừ: Năm 2019, XK cá ngừ của Việt Nam đạt 719,5 triệu USD, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm 2018 trong đó XK cá ngừ mã HS 03 tăng 19,8%, cá ngừ mã HS 16 giảm 0,6%. Việt Nam XK nhiều nhất là cá ngừ loin/phile đông lạnh với 368,4 triệu USD, tiếp đến là cá ngừ hộp với trên 181 triệu USD, các sản phẩm chế biến khác khoảng 123 triệu USD, còn lại là cá ngừ tươi/đông lạnh với trên 46,8 triệu USD.
Mỹ vẫn là thị trường NK cá ngừ lớn nhất của Việt Nam, chiếm tỷ trọng 44% trong tổng giá trị XK cá ngừ của Việt Nam đi các thị trường. Năm 2019, XK cá ngừ Việt Nam sang Mỹ tăng trưởng tốt 37,8% đạt 316,3 triệu USD. EU là thị trường NK lớn thứ 2, chiếm tỷ trọng 19,4%. Trong 3 thị trường NK lớn nhất trong khối EU (Tây Ban Nha, Italy, Hà Lan), XK cá ngừ sang Italy tăng, XK sang hai thị trường còn lại giảm.
Mực, bạch tuộc: Năm 2019, XK mực, bạch tuộc của Việt Nam đạt 576,7 triệu USD, giảm 14,2% so với năm 2018. Năm 2019, XK mực, bạch tuộc Việt Nam chỉ tăng trong hai tháng 1 và 3/2019, các tháng còn lại đều giảm.
Trong tổng cơ cấu mực, bạch tuộc XK của Việt Nam, bạch tuộc chiếm tỷ trọng cao hơn với 50,8%, còn lại mực chiếm 45,4%. Việt Nam vẫn chủ yếu XK các sản phẩm mực, bạch tuộc sống/tươi/đông lạnh (chiếm tỷ trọng 71%), các sản phẩm chế biến vẫn chưa nhiều (chiếm 29%).
Năm 2019, XK tất cả các mặt hàng mực, bạch tuộc của Việt Nam đều giảm trong đó XK mực giảm 24,4%, XK bạch tuộc giảm 10%. Mực khô/nướng (HS 03) giảm mạnh nhất 25,8% so với năm 2018.
Hàn Quốc vẫn là thị trường NK mực, bạch tuộc lớn nhất của Việt Nam, chiếm tỷ trọng 39,9% tổng XK mực, bạch tuộc của Việt Nam đi các thị trường. Năm 2019, XK mực, bạch tuộc sang Hàn Quốc đạt hơn 230 triệu USD, giảm 14,8% so với năm 2018. Sau khi tăng trưởng liên tục trong 4 tháng đầu năm 2019, XK mặt hàng này sang Hàn Quốc giảm liên tục từ tháng 5 đến hết năm 2019.
Trong cơ cấu sản phẩm mực, bạch tuộc của Việt Nam XK sang Hàn Quốc, bạch tuộc vẫn chiếm ưu thế với 75%, còn lại mực chiếm 25%. Hàn Quốc chủ yếu NK các sản phẩm mực, bạch tuộc từ Việt Nam như mực khô lột da, mực chế biến làm sạch đông lạnh, mực sushi đông lạnh, bạch tuộc nguyên con làm sạch đông lạnh, bạch tuộc cắt khúc ướp đá…
Nhật Bản, thị trường NK mực, bạch tuộc lớn thứ 2 của Việt Nam, NK 140,5 triệu USD mực, bạch tuộc từ Việt Nam trong năm 2019, giảm 8,9% so với năm 2018. XK mực, bạch tuộc Việt Nam sang Nhật giảm liên tục từ tháng 8 đến hết năm 2019.
Tỷ trọng mực và bạch tuộc của Việt Nam xuất sang Nhật Bản gần tương đương. Trong cơ cấu mực, bạch tuộc của Việt Nam XK sang Nhật Bản, mực tươi/đông lạnh (HS 03) chiếm tỷ trọng cao nhất.
Năm 2019, ASEAN vươn lên là thị trường NK mực, bạch tuộc lớn thứ 3 của Việt Nam. Năm 2019, XK mực, bạch tuộc Việt Nam sang thị trường này đạt 70,3 triệu USD, giảm 14,7% so với năm 2018.
(vasep.com.vn) Công ty Omani Bio Products Company (OBPC), có trụ sở tại Khazaen (Oman), vừa chính thức đưa vào vận hành nhà máy sản xuất thức ăn thủy sản mới với tổng vốn đầu tư 37 triệu rial Oman (tương đương 96 triệu USD). Nhà máy sử dụng chất thải nông nghiệp làm nguyên liệu đầu vào và hiện có công suất tối đa 15.000 tấn thức ăn thủy sản mỗi năm, trước khi triển khai các kế hoạch mở rộng.
(vasep.com.vn) Năm 2025, Na Uy xuất khẩu khoảng 2,8 triệu tấn thủy sản, đạt giá trị 181,5 tỷ NOK. So với năm 2024, kim ngạch xuất khẩu tăng 6,4 tỷ NOK, tương đương mức tăng 4%. Kết quả này đạt được trong bối cảnh ngành thủy sản đối mặt với nhiều yếu tố bất lợi, bao gồm hạn ngạch khai thác giảm đối với nhiều loài cá tự nhiên và những biến động trong thương mại quốc tế.
(vasep.com.vn) Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn đã ký Quyết định số 16/QĐ-TTg ngày 5/1/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch thực hiện Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Israel (VIFTA). Kế hoạch yêu cầu trong thời gian tới, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cụ thể hoá và tổ chức triển khai thực hiện những nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến thông tin về Hiệp định VIFTA và thị trường Israel; xây dựng pháp luật, thể chế và nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển nguồn nhân lực...
Công tác hậu kiểm thực phẩm rất quan trọng, đây là mô hình mà nhiều nước trên thế giới đang áp dụng. Hiện, công tác hậu kiểm thực phẩm ở nước ta đang được quy định ở các điều khoản khác nhau, chưa thống nhất. Dự kiến, dự thảo Luật An toàn thực phẩm sửa đổi sẽ hệ thống hóa nội dung này.
Ngành nuôi trồng thủy sản Brazil đang trải qua giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ, với cá rô phi trở thành động lực chính thúc đẩy hiện đại hóa toàn ngành. Từ một sản phẩm ngách, rô phi hiện đã vươn lên trở thành loài cá được tiêu thụ nhiều nhất tại Brazil, đóng vai trò trung tâm trong cả ẩm thực lẫn nông nghiệp.
(vasep.com.vn) Một doanh nghiệp nuôi cá tại bang New South Wales (Australia) – Murray Cod – vừa đạt chứng nhận Best Aquaculture Practices (BAP) 3 sao cho toàn bộ hệ thống trang trại, thức ăn và cơ sở chế biến.
(vasep.com.vn) Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng đối với thương mại và chính sách thủy sản Hoa Kỳ, khi hàng loạt thay đổi về thuế quan, quy định nhập khẩu và quản lý ngành đã tạo ra những tác động sâu rộng đến chuỗi cung ứng toàn cầu, thị trường nội địa Mỹ cũng như năng lực cạnh tranh của ngành thủy sản.
(vasep.com.vn) Năm 2025 đánh dấu giai đoạn điều chỉnh mang tính cấu trúc của ngành xuất khẩu thủy sản châu Á, trong bối cảnh môi trường thương mại toàn cầu ngày càng phức tạp. Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) tiếp tục duy trì các hàng rào thuế quan, yêu cầu kỹ thuật và tiêu chuẩn bền vững khắt khe hơn, trong khi các hiệp định thương mại như CEPA và CETA mở ra những hướng đi mới, buộc doanh nghiệp và quốc gia xuất khẩu phải tái định vị chiến lược.
(vasep.com.vn) Quần đảo Nam Du (tỉnh An Giang) cách đất liền Hà Tiên khoảng 80 km đang dần hình thành mô hình nuôi cá biển lồng bè gắn với kinh tế tập thể, trong đó Hợp tác xã (HTX) nông dân Thanh Hoa được xem là điểm sáng về tổ chức sản xuất và liên kết tiêu thụ.
(vasep.com.vn) Liên minh châu Âu (EU) đã ban hành Quy định ủy quyền (Delegated Regulation (EU) 2025/1449) sửa đổi Phụ lục III của Quy định (EC) số 853/2004, nhằm siết chặt điều kiện đông lạnh cá ngừ (tuna) dùng cho tiêu thụ trực tiếp cho con người.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn