Điểm mạnh của ngành tôm Việt
- Diện tích đất ngập mặn hàng triệu hecta.
- Ngành nuôi tôm phát triển khá sớm.
- Ngành chế biến tôm ở tầm cao thế giới.
- Chuỗi giá trị con tôm phát triển khá đồng bộ.
- Người lao động cần mẫn, chăm chỉ.
Điểm yếu:
- Việc nuôi tôm đa phần nhỏ lẻ.
- Giá thành tôm nuôi, tôm chế biến cao.
- Hạ tầng cơ sở nuôi thiếu và chưa đồng bộ.
- Diện tích ao nuôi đạt chuẩn cao như ASC, BAP còn quá ít.
- Đa phần tôm bố mẹ phải nhập khẩu.
- Ngành tôm Việt chưa có thương hiệu xứng tầm.
Cơ hội:
- Xu thế người tiêu dùng chuộng thủy sản.
- Nhiều hiệp định tự do thương mại đã và chuẩn bị ký kết.
- Công nghệ phát triển, cơ hội quản trị hữu hiệu và tăng năng suất.
- Biến đổi khí hậu có lợi cho nuôi tôm.
- Chính phủ quan tâm phát triển ngành tôm.
Thách thức:
- Dịch bệnh trong nuôi tôm luôn tiềm ẩn.
- Là ngành bị ảnh hưởng không nhỏ từ thời tiết.
- Xu thế thiếu hụt lao động.
- Sự cạnh tranh gay gắt tôm giá rẻ từ Ấn Độ, Ecuador.
- Sự đòi hỏi ngày càng nghiêm ngặt về vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Hàng rào kỹ thuật mỗi lúc thêm dầy đặc.
- FTA đôi khi có bất lợi trong phạm vi hẹp.
Từ những yếu tố nêu trên, cho thấy điểm MẠNH, YẾU là yếu tố mang tính chất BÊN TRONG ngành tôm, có thể kiểm soát, thay đổi. Còn CƠ HỘI, THÁCH THỨC là yếu tố BÊN NGOÀI khó kiểm soát và thay đổi. Dựa vào SWOT xác định vị thế, chiến lược, hướng đi, giải pháp phù hợp.
Thị trường Mỹ
Mỹ là thị trường lớn của tôm Việt. Tuy nhiên, sau khi bị vụ kiện chống bán phá giá, thị phần tại thị trường này có xu thế giảm, hiện nay chỉ đạt khoảng 10%. Tham gia thị trường này có sự phân hóa khá lớn, Minh Phú chiếm 44% doanh số xuất khẩu tôm Việt và không có thuế chống bán phá giá, STAPIMEX chiếm 17% và có mức thuế 0.71%. Còn lại trên 30 doanh nghiệp tôm có thuế 4.58% và chiếm thị phần còn lại, 39%.
Ưu thế:
- Thị trường có dung lượng dung nạp lớn với mẫu mã sản phẩm phù hợp sở trường số đông các doanh nghiệp tôm Việt.
- Quy định của FDA cũng khá thông thoáng, chỉ 3-5% lô hàng bị kiểm tra.
- Mức thuế cuối cùng POR13 bằng 0%, áp dụng luôn cho POR14 là nền tảng thuận lợi về sau.
- Thương chiến Mỹ - Trung có thể tạo ra thời cơ cho tôm Việt.
Thách thức:
- Đối thủ lớn là tôm Ấn Độ giá rẻ (36% thị phần) và tôm Indonesia không bị thuế chống bán phá giá (19% thị phần).
- SIMP ít nhiều gây khó cho các báo cáo vì việc nuôi tôm biến động thường xuyên.
- Thương chiến Mỹ - Trung diễn biến khôn lường vừa tạo ra cơ hội nhưng đồng thời cũng tạo ra rủi ro. Thuế chống bán phá giá tôm còn kéo dài.
Tóm lại, Hoa Kỳ là thị trường tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn là thuận lợi.
Thị trường EU
EU là thị trường lớn thứ ba của tôm Việt sau Mỹ và Nhật Bản. Tuy nhiên, từ năm 2016 sau khi đối thủ tôm Việt (Thái Lan) không còn GSP ở EU, thị phần tôm Việt tại EU tăng khá mạnh qua các năm và trở thành thị trường trọng điểm tôm Việt hiện nay, thị phần tôm Việt lần lượt qua 3 năm từ năm 2016 đến năm 2018 là 19%/ 22% / 24%.
Ưu thế:
- Hiện nay có GSP, sắp tới thông qua EVFTA thì ưu thế càng vượt trội vì không phải chịu thuế.
- EU có nhu cầu cao về tôm đông rời, đó là thế mạnh của các doanh nghiệp tôm Việt.
- Trình độ chế biến doanh nghiệp tôm Việt có đẳng cấp cao, thuận lợi cho việc thâm nhập các hệ thống phân phối lớn.
Thách thức:
- Kiểm tra sau thông quan.
- Đòi hỏi truy xuất nguồn gốc chặt chẽ và tôm nuôi đạt chuẩn của EU (ASC).
- Các hệ thống phân phối cao cấp có những đòi hỏi hết sức gắt gao như quy định mật độ nuôi, quy định cách thu hoạch tôm nhân đạo, quy định thời gian từ thu hoạch tới bảo quản và tới cơ sở chế biến…
Tóm lại, thị trường EU rộng nhưng cửa chưa mở, buộc chúng ta phải thay đổi mình, đáp ứng các chuẩn mực nêu trên mới tận dụng được cơ hội vàng này.
Ứng xử của chúng ta:
Từ những điểm phân tích trên, để thúc đẩy ngành tôm Việt tăng trưởng từ hai con số, sẽ thấy những yêu cầu, giải pháp trước mắt và lâu dài như sau:
+ Yêu cầu trước mắt lẫn dài hạn là phải tạo ra nguồn tôm sạch có chứng nhận với giá cạnh tranh.
+ Yêu cầu dài hạn phải xây dựng cho được thương hiệu tôm Việt.
Từ yêu cầu đó, hệ thống giải pháp chung có thể nêu ra là:
• Kiểm soát chặt chẽ chế phẩm nuôi tôm, ngăn chặn từ gốc các nguồn thẩm lậu các hoá chất nuôi tôm không có tên trong danh mục cho phép.
• Sắp xếp lại vùng nuôi, tạo nên các trang trại, hợp tác xã nuôi quy mô lớn theo chuẩn nuôi quốc tế có chứng nhận.
• Đầu tư cơ sở hạ tầng vùng nuôi, tập trung điện, đường, thuỷ lợi.
• Quan tâm nhân rộng những mô hình nuôi mới, thành công.
• Chú trọng hơn nữa chương trình gia hoá tôm bố mẹ có nhiều tính trội.
• Vận động các thành viên tạo nên giá trị chuỗi con tôm biết chia sẻ lợi ích, cùng tồn tại.
• Hoàn thiện hệ thống trường nghề đào tạo công nhân trong lĩnh vực nuôi và chế biến tôm.
• Vận động các doanh nghiệp chế biến tôm từng bước xây dựng thương hiệu cho mình. Trước mắt phải lấy chữ TÍN làm hàng đầu trong kinh doanh.
Giải pháp cụ thể đi đôi giải pháp chung có thể nêu ra là:
+ Thị trường Mỹ: Cố gắng duy trì tốc độ tăng trưởng không quá lớn so với tốc độ phát triển của ngành. Nếu không, rủi ro về bị áp thuế có thể xảy ra bất kỳ lúc nào, từ Chính phủ Mỹ hoặc từ nguyên đơn. Nó hòi hỏi sự chia sẻ vì quyền lợi chung, không thể vì lợi ích ngắn hạn làm ảnh hưởng toàn ngành.
+ Thị trường EU: Tận dụng thế mạnh là chế biến hàng cao cấp có mức thuế cao như tôm luộc (thuế cơ bản 20%, có GSP còn 7%). Sản phẩm này đối thủ bị thuế cao, sự chênh lệch giá thành nhập khẩu lớn. Như vậy sẽ thu thêm nhiều hơn giá trị gia tăng, có thể chia sẻ lại người nuôi qua giá mua tôm nguyên liệu. Qua đó thúc đẩy người nuôi ứng dụng các quy trình nuôi ASC, BAP… tăng nguồn nguyên liệu để chế biến bán vào EU.
Tóm lại, càng hội nhập càng mở ra những cơ hội cho ngành tôm, nhưng đi liền đó là những khó khăn to lớn hơn. Mọi sự vật, hiện tượng đều có hai mặt và chúng ta không thể chối bỏ, phải đối diện với khó khăn và hết sức nỗ lực tháo gỡ. Sự tháo gỡ đó cần sự chung tay của Chính phủ và toàn ngành tôm. Có như vậy chúng ta mới tranh thủ tốt thời cơ, phát huy một thế mạnh của đất nước, nâng tầm tôm Việt trên thương trường thế giới.
(vasep.com.vn) Thị trường thủy sản thế giới ngày 10/9/2026 ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý liên quan đến chính sách thương mại, nguồn cung nguyên liệu và xu hướng cạnh tranh. Mỹ tiếp tục tăng cường các công cụ xử lý gian lận thương mại, đồng thời hỗ trợ ngành cá da trơn nội địa; trong khi nhập khẩu tôm của nước này duy trì ở mức cao với sự cạnh tranh mạnh từ Ecuador và Ấn Độ. Bên cạnh đó, rủi ro El Niño, biến động nguồn bột cá – dầu cá, yêu cầu truy xuất nguồn gốc cá ngừ và những thay đổi trong chính sách hạn ngạch tại EU, Nhật Bản tiếp tục là các yếu tố doanh nghiệp thủy sản cần theo dõi trong thời gian tới.
(vasep.com.vn) Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia Mỹ (NOAA) vừa công bố một loạt ưu tiên nhằm củng cố ngành thủy sản Mỹ, thúc đẩy khai thác và nuôi trồng thủy sản dựa trên cơ sở khoa học, đồng thời tăng khả năng cạnh tranh của Mỹ trên thị trường thủy sản toàn cầu.
(vasep.com.vn) Trung Quốc là thị trường tiêu thụ thủy sản lớn nhất của Argentina trong 7 tháng đầu năm 2026, chiếm 30,3% tổng giá trị xuất khẩu được ghi nhận của toàn ngành.
(vasep.com.vn) Thị trường tôm EU và Anh ghi nhận sự chững lại về lượng trong tháng 6/2026, nhưng giá trị nhập khẩu lũy kế nửa đầu năm vẫn duy trì tương đối ổn định. Đáng chú ý, Việt Nam tiếp tục nằm trong nhóm ba nguồn cung lớn nhất cho khu vực này.
(vasep.com.vn) Công nghệ tách tĩnh điện ma sát khô (triboelectrostatic) của ST Equipment and Technology (STET) đang mở ra hướng mới trong sản xuất nguyên liệu giàu protein cho thức ăn thủy sản từ phụ phẩm nông nghiệp, đồng thời giảm sử dụng nước, hóa chất và năng lượng.
(vasep.com.vn) Ủy ban châu Âu (EC) đã phê duyệt chương trình hỗ trợ trị giá 4,5 triệu euro của Đức dành cho các doanh nghiệp khai thác và nuôi trồng thủy sản chịu ảnh hưởng bởi giá nhiên liệu tăng do khủng hoảng tại Trung Đông.
(vasep.com.vn) Chính phủ Canada đã chính thức loại bỏ các mặt hàng cá và hải sản khỏi danh sách thuế đáp trả, qua đó giảm bớt lo ngại về mức thuế 25% đối với tôm hùm Mỹ có thể làm gián đoạn thị trường tiêu thụ trọng điểm, nhất là khi vụ đánh bắt tôm hùm Maine mùa thu vừa bắt đầu.
(vasep.com.vn) Chiến dịch ‘Follow the Fish’ của tổ chức Oceana Europe kêu gọi Liên minh Châu Âu (EU) bắt buộc cung cấp thông tin thiết yếu cho người tiêu dùng, bao gồm về loài, địa điểm đánh bắt, quốc gia tàu cá mang cờ và phương thức đánh bắt đối với tất cả các sản phẩm hải sản, không phân biệt về cách thức chế biến và điểm bán.
(vasep.com.vn) Nga đã phê duyệt tổng sản lượng khai thác cho phép (TAC) năm 2027, trong đó hạn ngạch cua tuyết opilio tại Viễn Đông tăng lên gần 38.000 tấn, mức cao nhất ít nhất kể từ năm 2013. Ngược lại, hạn ngạch cá minh thái tại khu vực này giảm khoảng 3%.
(vasep.com.vn) Xuất khẩu thủy sản của Na Uy sang Thái Lan tiếp tục tăng trưởng tích cực trong 7 tháng đầu năm 2026, cho thấy sức hấp dẫn của thị trường Đông Nam Á đối với các sản phẩm thủy sản Na Uy. Theo Hội đồng Hải sản Na Uy (Norwegian Seafood Council), kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang Thái Lan đạt khoảng 2,05 tỷ NOK (tương đương 7 tỷ baht), tăng 7% so với cùng kỳ năm trước.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn