Theo Tổng cục Thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), ngành thủy sản nước ta có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Về nguồn lợi thủy sản, đã xác định có khoảng 2.030 loài cá, trong đó 100 loài cá có giá trị kinh tế cao. Trữ lượng hải sản khoảng 5.075.143 tấn với khả năng khai thác 2.147.444 tấn. Về nuôi trồng thủy sản, tổng diện tích có khả năng nuôi trồng khoảng 2,2 triệu ha, trong đó diện tích nước ngọt là 1,7 triệu ha; mặn, lợ 1,18 triệu ha.
Năm 2016, diện tích nuôi tôm cả nước đạt khoảng 700.000ha, diện tích nuôi cá tra khoảng 5.050ha. Riêng chế biến thủy sản, hiện nước ta có 612 cơ sở với công suất cấp đông khoảng 8.000 tấn/ngày và 2.900.000 tấn/năm; có 480 nhà máy chế biến đạt tiêu chuẩn xuất khẩu vào EU. Năm 2016, một số mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu cao như: mặt hàng tôm đạt 3,1 tỷ USD; cá tra 1,66 tỷ USD; cá ngừ 510 triệu USD; mực, bạch tuộc 440 triệu USD.
Dù đạt được những kết quả tích cực, tuy nhiên, theo nhìn nhận của Tổng cục Thủy sản, hiện nay, ngành thủy sản đang phải đối mặt với khá nhiều khó khăn. Cụ thể, cơ chế, chính sách trong quản lý nguồn lợi khai thác và bảo vệ môi trường nuôi trồng thủy sản còn chưa hiệu quả, nhất là ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Trong khai thác thủy sản, việc tập trung khai thác ven bờ dẫn đến cạn kiệt nguồn lợi; công nghệ khai thác và bảo quản trên tàu còn hạn chế, cơ sở hạ tầng cảng cá, chợ cá,…chưa đạt yêu cầu về chất lượng. Về nuôi trồng thủy sản, công tác phòng chống dịch bệnh vẫn còn yếu, chất lượng giống và quản lý nuôi chưa được kiểm soát, giá thành sản xuất hiện còn cao. Riêng về chế biến xuất khẩu, hàm lượng giá trị gia tăng trong sản phẩm vẫn còn thấp.
Theo Cục quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản (Bộ NN&PTNT), với ngành hàng thủy sản, vẫn còn các lô hàng bị nước nhập khẩu cảnh báo an toàn thực phẩm, nhất là hóa chất kháng sinh. Nguyên nhân do doanh nghiệp kiểm soát chưa hiệu quả nguyên liệu đầu vào, người nuôi sử dụng kháng sinh cấm, lạm dụng kháng sinh hạn chế sử dụng trong quá trình nuôi.
Cùng với đó, rào cản kỹ thuật các thị trường nhập khẩu thủy sản Việt Nam còn khá nhiều bất cập. Một số thị trường nhập khẩu công nhận danh sách các cơ sở được phép xuất khẩu không dựa trên việc đánh giá công nhận hệ thống theo thông lệ quốc tế mà sang kiểm tra, công nhận từng doanh nghiệp, do đó, làm tốn thời gian và nguồn lực của cả hai bên. Đồng thời đưa ra các yêu cầu về an toàn thực phẩm cao hơn thông lệ quốc tế mà không có các cơ sở khoa học, đánh giá nguy cơ cụ thể.
Theo Tổng cục Thủy sản, đến năm 2020, ngành thủy sản phấn đấu tăng giá trị bình quân sản xuất thủy sản 6%/năm, khai thác thủy sản 3%/năm, nuôi trồng thủy sản 8%/năm và xuất khẩu thủy sản 6%/năm. Đồng thời, tăng cường quản lý tài nguyên, nguồn lợi thủy sản, giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực từ môi trường, dịch bệnh và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Nhằm khắc phục những khó khăn còn tồn tại và thực hiện mục tiêu đề ra, theo Tổng cục Thủy sản, cần triển khai đồng bộ các giải pháp trên các lĩnh vực của ngành thủy sản. Riêng về quy hoạch, thực hiện rà soát, điều chỉnh, bổ sung, xây dựng mới quy hoạch ở Trung ương và địa phương. Tập trung vào các quy hoạch đã được phê duyệt như: nghiên cứu, sản xuất cung ứng giống, nuôi và chế biến cá tra, phát triển cá nước lạnh, nuôi tôm nước lợ đồng bằng sông Cửu Long; nuôi trồng thủy sản các tỉnh miền Trung,… Xây dựng quy trình quản lý, kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch.
Bên cạnh đó, tổ chức lại bộ máy quản lý nhà nước về thủy sản từ Trung ương tới địa phương. Trong khai thác thủy sản, tổ chức lại công tác quản lý tàu cá; xây dựng mô hình sản xuất tổ, đội, hợp tác xã. Thành lập đưa vào quản lý các khu bảo tồn biển, phục hồi hệ sinh thái, sản hô, cỏ biển, rừng ngập mặn. Trong nuôi trồng thủy sản, tổ chức sản xuất theo chuỗi liên kết, đồng thời tổ chức các hộ sản xuất nhỏ lẻ theo mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã nhằm đẩy mạnh hoạt động cung ứng dịch vụ và tiêu thụ sản phẩm. Về chế biến thủy sản, các cơ sở chế biến cần đạt các tiêu chuẩn về môi trường; cơ sở chế biến mới được tập trung tại các cụm công nghiệp gắn với vùng nguyên liệu nhằm giảm thiểu các chi phí sản xuất; khuyến khích ưu đãi việc đầu tư nâng cấp dây chuyền sản xuất tạo ra sản phẩm giá trị gia tăng.
Về giải pháp khoa học công nghệ, theo Tổng cục Thủy sản, cần định kỳ điều tra nguồn lợi, nghiên cứu áp dụng công nghệ bảo quản trên tàu cùng với nghiên cứu các mô hình tổ chức khai thác kết hợp dịch vụ trên biển, áp dụng công nghệ viễn thám. Bên cạnh đó, nghiên cứu công nghệ sản xuất giống nuôi chủ lực tăng trưởng nhanh sạch bệnh; nghiên cứu dinh dưỡng thức ăn, chế phẩm sinh học, thuốc thú y thủy sản với giá thành hợp lý. Nghiên cứu quy trình nuôi trồng an toàn sinh học, công nghệ nuôi ít sử dụng nước, thân thiện với môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu.
Về giải pháp thị trường, giữ vững cơ cấu các thị trường xuất khẩu thủy sản truyền thống có thị thần lớn và thị trường mới nổi gồm: Nhật Bản, Hoa Kỳ, EU (mỗi thị trường khoảng 18-25% thị phần xuất khẩu thủy sản Việt Nam), Hàn Quốc, Trung Quốc và các khu vực Đông Âu, Bắc Âu, Trung Đông, Châu Phi, Nam Mỹ, châu Á. Đổi mới phương thức xúc tiến thương mại, hội và hiệp hội là người tổ chức thực hiện, cơ quan nhà nước giữ vai trò xây dựng cơ chế, chính sách và hỗ trợ hoạt động. Phát triển hình thức xuất khẩu trực tiếp cho các hệ thống phân phối, các trung tâm thương mại, siêu thị. Với thị trường nội địa, tiến hành rà soát, bổ sung quy hoạch hệ thống chợ đầu mối và kênh tiêu thụ từ người sản xuất, doanh nghiệp đến các chợ, siêu thị.
Đối với tình trạng cảnh báo hóa chất kháng sinh, theo Cục quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản, các cơ quan thuộc Bộ NN&PTNT cần giám sát, cảnh báo sớm dịch bệnh trên thủy sản để kịp thời khuyến nghị và hướng dẫn người nuôi phòng trị bệnh hiệu quả, không sử dụng chất cấm trong nuôi trồng. Giám sát tồn dư hóa chất kháng sinh trong thủy sản nuôi để kịp thời phát hiện, cảnh báo và truy xuất, xử lý tận gốc đối với sản phẩm, cơ sở sản xuất kinh doanh vi phạm các quy định về tồn dư hóa chất kháng sinh. Theo dõi, cập nhật tình hình các lô hàng bị cảnh báo hóa chất kháng sinh để kịp thời cảnh báo doanh nghiệp, đề xuất các biện pháp kiểm soát phù hợp./.
Người Việt hay nói “trước thềm năm mới”. Với người làm biển, đó là khoảnh khắc đứng ở mũi thuyền khi trời còn lờ mờ sáng; với người nuôi trồng, là lúc đi dọc bờ ao, nhìn mặt nước yên hay gợn. Một khoảnh khắc rất ngắn, nhưng đủ dài để tự hỏi: năm tới, mình sẽ đối đãi với nước, với biển như thế nào?
(vasep.com.vn) Trong bối cảnh nuôi trồng thủy sản toàn cầu ngày càng chịu áp lực từ yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, cá rô phi đơn tính đực đang được xem là một giải pháp công nghệ quan trọng, mở ra hướng đi mới cho ngành nuôi cá rô phi tại nhiều quốc gia.
(vasep.com.vn) Năm 2025 đánh dấu bước tăng trưởng mạnh của ngành cá minh thái Nga khi sản lượng cung ứng cho thị trường nội địa đạt mức cao kỷ lục 271 nghìn tấn, tăng 7% so với năm 2024. Theo Hiệp hội các doanh nghiệp khai thác cá minh thái Nga (ADM), đây là mức cao nhất từ trước tới nay, đồng thời cho thấy sự chuyển dịch rõ rệt trong chiến lược phát triển thị trường trong nước đối với loài cá chủ lực này. Kể từ năm 2013, khối lượng cá minh thái tiêu thụ nội địa đã tăng gần 4,5 lần.
(vasep.com.vn) Trong tháng 1, Na Uy xuất khẩu thủy sản đạt 14,8 tỷ NOK, giảm 3% so với cùng kỳ năm ngoái, dù sản lượng xuất khẩu của nhiều mặt hàng ghi nhận mức tăng. Diễn biến này cho thấy các yếu tố như giá bán giảm, biến động tiền tệ và rào cản thương mại đang tác động ngày càng rõ tới ngành thủy sản Na Uy.
(vasep.com.vn) Năm 2026 được dự báo sẽ là thời điểm ngành thủy sản toàn cầu trải qua những thay đổi sâu rộng, khi các xu hướng về công nghệ, hành vi tiêu dùng và dịch chuyển nhân khẩu học cùng lúc tác động đến toàn bộ chuỗi giá trị. Theo đánh giá của Hội đồng Thủy sản Na Uy (NSC), ngành đang bước ra khỏi giai đoạn tăng trưởng truyền thống để tiến vào một chu kỳ phát triển mới, mang tính chuyển đổi toàn diện.
(vasep.com.vn) Việc tăng cường giám sát tôm nhập khẩu là một trong những ưu tiên hàng đầu của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) trong năm 2026. Gần đây, cơ quan này đã công bố một loạt lĩnh vực trọng tâm sẽ triển khai trong năm tới.
(vasep.com.vn) Tập đoàn thủy sản Norebo có trụ sở tại Murmansk (Nga) đã chính thức thua kiện trong vụ tranh chấp pháp lý với chính quyền Na Uy liên quan đến hạn ngạch và giấy phép khai thác thủy sản tại vùng đặc quyền kinh tế của nước này. Vụ việc được Tòa án quận Oslo xem xét và phán quyết theo hướng có lợi cho phía Na Uy.
(vasep.com.vn) Hội đồng Quản lý Nuôi trồng Thủy sản (ASC) xác nhận chương trình chứng nhận của tổ chức này tại Trung Quốc sẽ hết hiệu lực vào năm 2027, buộc nhiều doanh nghiệp đang được chứng nhận phải chuyển hướng trong thời gian tới. ASC đã bắt đầu rút dần hoạt động từ tháng 3/2024 và đóng cửa văn phòng tại Trung Quốc sau khi tiến hành rà soát chiến lược về hoạt động và thị trường. Theo ASC, quyết định này nhằm tập trung nguồn lực hạn chế vào những khu vực và thị trường có thể tạo ra tác động lớn hơn, đồng thời để ngỏ khả năng điều chỉnh trong các đánh giá tương lai.
(vasep.com.vn) Năm 2025, xuất khẩu ghẹ của việt Nam đạt gần 86 triệu USD, tăng gần 6% so với năm 2024.
(vasep.com.vn) Vào tháng 8/2025, Cơ quan Nghề cá của Cục Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia Hoa Kỳ (NOAA Fisheries) đã công bố một thông báo trên Công báo Liên bang về Quyết định Xác định Khả năng so sánh nghề cá năm 2025 theo các Điều khoản Nhập khẩu của Đạo luật Bảo vệ Động vật biển có vú (MMPA).
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn