Báo cáo cho thấy mức tiêu thụ thủy sản bình quân đầu người ở Nhật đã giảm trong hai thập kỷ qua: năm 2001 ở mức 40,2 kg, sau đó giảm dần xuống dưới mức tiêu thụ thịt bình quân đầu người vào năm 2011. Năm 2020 mức này giảm còn 23,4 kg, được báo cáo cho rằng nguyên nhân do người tiêu phải chịu mức giá cao và chi phí nhân công nấu nướng.
Báo cáo cho thấy các nhãn điện tử phổ biến ở Nhật Bản là Hội đồng quản lý biển (MSC), Hội đồng Quản lý Nuôi trồng thủy sản (ASC) và Nhãn sinh thái biển (MEL). Tính đến cuối tháng 3/2022, MSC đã cấp chứng nhận bền vững cho 12 ngư trường tại Nhật Bản - nhiều gấp đôi năm trước đó - đối với sò điệp, cá ngừ bonito, cá ngừ albacore và hàu. Ngoài ra, 313 doanh nghiệp đã đạt được chứng nhận Quy trình Giám sát Nguồn gốc (CoC), nhiều hơn 13 doanh nghiệp so với trước đây. ASC đã chứng nhận cho 14 doanh nghiệp nuôi trồng thủy sản đang vận hành 81 trại nuôi, đối với hàu, cá cam Nhật Bản cùng với 164 chứng chỉ CoC, tăng lần lượt 1 và 13 doanh nghiệp.
MEL - một chứng nhận của Nhật Bản đã được công nhận Sáng kiến Thuỷ sản Bền vững Toàn cầu (GSSI) vào năm 2019 - đã chứng nhận 14 ngư trường bao gồm cá hồi sockeye, cá thu và nghêu shijimi; cũng như 53 doanh nghiệp nuôi trồng thủy sản bao gồm cá cam Nhật Bản, cá tráp đỏ, cá hồi coho - mức tăng lần lượt là 7 và 12. Các chứng chỉ CoC của tiêu chuẩn đã tăng thêm 42 lên thành 100. Nhìn chung, MEL đã có mức tăng trưởng nhanh hơn MSC ở Nhật Bản.
Lượng hải sản nhập khẩu giảm 2,3% so với năm trước, nhưng tăng 10% về giá trị. Các loài có giá trị nhập khẩu cao nhất lần lượt là cá hồi nước mặn và cá hồi nước ngọt với 13,4%, cá ngừ bonito và các loại cá ngừ khác là 11,6%, tôm là 11,1%, các sản phẩm tôm chế biến là 4,5%, cua ở mức 3,6%, cá tuyết là 3%, và mực ống ở mức 2,9%. Tỷ lệ tương đối không thay đổi nhiều trong vài năm qua ngay cả khi chịu ảnh hưởng của COVID-19.
Các nguồn cung cấp chính của Nhật Bản lần lượt theo tỷ trọng tổng giá trị, Trung Quốc ở mức 18%, Chile là 9,2%, Nga là 8,6%, Mỹ là 8,3%, Na Uy là 6,9%, Việt Nam là 6,7%, Thái Lan là 6,1%, Indonesia là 4,6% và Hàn Quốc là 4,4%.
Các loại hải sản xuất khẩu chính của Nhật Bản gồm sò điệp ở mức 21,2%, cá cam Nhật Bản ở mức 8,2%, cá thu ở mức 7,3%, cá ngừ bonito và các loại cá ngừ khác ở mức 6,8%, ngọc trai ở mức 5,7%, hải sâm chế biến ở mức 5,1%, chả cá ở mức 3,7% và sò điệp chế biến ở mức 2,7%. Thị trường nhập khẩu hàng đầu là Hồng Kông ở mức 22,1%, Trung Quốc ở mức 19,6%, Mỹ là 14%, Đài Loan ở mức 8,9%, Thái Lan là 6,8%, Việt Nam là 6,8% và Hàn Quốc là 5,8%.
Sản lượng đánh bắt và nuôi trồng thủy sản của Nhật Bản đã giảm đều kể từ khi đạt đỉnh vào cuối những năm 1980, do nguồn dự trữ cá mòi (sardine) trong nước sụt giảm và việc hầu hết các nước thực hiện vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý. Một nguyên nhân khác là do sự suy giảm dân số và thiếu người kế nghiệp trong ngành đánh bắt cá. Kể từ khi ngành thủy sản sụp đổ, cá mòi đã có sự phục hồi nhẹ và giá trị nuôi trồng thủy sản tăng từ khoảng năm 2013 đến năm 2018, làm tăng số liệu tổng thể - nhưng sau đó, các số liệu này lại có xu hướng giảm.
Dữ liệu trong năm đại dịch 2020 cho thấy thu nhập trung bình của một chủ tàu đánh cá tư nhân giảm khoảng 30% so với năm trước đó xuống chỉ còn 1,35 triệu yên (10.078 USD, 9.383 EUR) - bao gồm cả thu nhập ngoài nghề cá. Trung bình một công ty vận hành một tàu đánh cá hoặc cơ sở chế biến cá vào năm 2020 bị lỗ 9,58 triệu yên (71.482 USD, 67.305 EUR), bao gồm cả thu nhập từ ngoài nghề cá. Nuôi trồng thủy sản có kết quả tốt hơn với các nhà khai thác tư nhân kiếm được trung bình 5,27 triệu yên (39.322 USD, 37.025 EUR).
Chi phí nhiên liệu đã tăng nhanh chóng đã khiến chính phủ phải trợ cấp giá. Sau khi giảm xuống khoảng 60 yên (45 USD, 42 EUR) mỗi lít vào năm 2020, dầu nặng đã tăng lên 109,1 yên (81 USD, 77 EUR) vào tháng 3/2022.
Lực lượng lao động ngành thủy sản đang bị thu hẹp, mặc dù tỷ lệ lao động từ 39 tuổi trở xuống có xu hướng tăng rất chậm khi người cao tuổi nghỉ hưu. Năng suất trên mỗi lao động đã có hai bước tăng đáng kể: năm 2006 và 2007, ngành đánh bắt thủy sản ven biển có sản lượng khai thác mạnh, và từ năm 2013 đến 2016, doanh thu nuôi trồng thủy sản tăng trước khi có xu hướng giảm nhẹ.
Chính phủ đang cố gắng khuyến khích tăng năng suất trong dài hạn bằng cách áp dụng công nghệ kỹ thuật số, trí tuệ nhân tạo và phương tiện bay không người lái vào nghề cá. Một ứng dụng cấp thiết là báo cáo kỹ thuật số theo thời gian thực về dữ liệu đánh bắt bằng máy tính bảng với việc sử dụng các tính toán Năng suất bền vững tối đa (MSY). Trước đây, dữ liệu được tích lũy ở cấp địa phương trên giấy, vào thời điểm dữ liệu được số hóa và phân tích, các nhà quản lý nghề cá thường làm việc từ dữ liệu của năm trước.
Đối với nuôi trồng thủy sản sẽ thực hiện giám sát môi trường và chuyển tiếp thông tin tự động, chẳng hạn như về thủy triều đỏ. Máy cho ăn tự động cũng sẽ theo dõi tốc độ tăng trưởng của cá để tối ưu hóa chi phí thức ăn và tỷ lệ chuyển đổi.
Trong đánh bắt thủy sản, việc giám sát các điều kiện biển, chẳng hạn như bằng phao được trang bị cảm biến, sẽ dự đoán các ngư trường tốt nhất và các tuyến đường tiết kiệm năng lượng.
Trong hoàn cảnh số lượng ngư dân giảm, chính phủ khuyến khích sáp nhập các hợp tác xã nghề cá địa phương để duy trì số lượng thành viên hoạt động tối thiểu. Số hợp tác xã thủy sản được hợp nhất đã tăng vọt vào năm 2020 lên 63, sau thời gian tạm lắng khi sáp nhập trong thập kỷ trước.
Về mặt phân phối, số lượng chợ đầu mối tại các cảng cá ổn định nhưng lượng hàng hoá bán qua chợ đầu mối tại các khu vực tiêu thụ ngày càng giảm do nhiều người mua như chuỗi nhà hàng, siêu thị đến mua trực tiếp.
Chế biến hải sản đã giảm trong hai thập kỷ, do sản lượng khai thác nguyên liệu thô trong nước thấp hơn. Chính phủ đang định hướng các sản phẩm thủy sản phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng bằng cách quảng bá những sản phẩm tiện lợi, dễ ăn và ít mùi tanh. Một ví dụ có thể là nước xốt cá không xương được đóng gói trong một túi lọc.
Theo quy tắc chung, tất cả các doanh nghiệp thực phẩm, bao gồm cả các nhà chế biến thủy sản, phải được chứng nhận HACCP trước tháng 6/2021 và chính phủ đã hỗ trợ cải tạo các cơ sở cần thiết để đạt được điều này. Tính đến cuối tháng 3/2022, số nhà máy chế biến thủy sản đã được chứng nhận xuất khẩu sang Liên minh châu Âu (EU) là 101 nhà máy và sang Mỹ là 538.
Nhật Bản cũng đang trong quá trình chuyển đổi nhiều loài từ hệ thống quản lý tổng nỗ lực cho phép (TAE) (ví dụ: thiết lập loại thiết bị và độ dài mùa vụ) sang hệ thống tổng sản lượng đánh bắt cho phép (TAC). Để làm được điều này cần có nhiều đánh giá tài nguyên hơn - bao gồm thiết lập MSY cho nhiều loài hơn. Trong năm tài chính 2021, số lượng loài cá được đánh giá nguồn lợi tăng từ 119 lên 192, sau đó chúng được phân loại theo tình trạng trữ lượng cao, trung bình hoặc thấp.
Tình trạng thấp chiếm 56%, bao gồm lươn biển, cá quế, cá mú bảy sọc và cá nóc hổ. 18% các loài ở trạng thái cao bao gồm cá mòi, cá tuyết Thái Bình Dương, cá thu Tây Ban Nha và mực mũi tên.
Nhật Bản cũng sẽ phân bổ hạn ngạch tàu cá nhân như đã thực hiện đối với cá thu và cá thu vạch , cá mòi ở Hokkaido, và cá ngừ vây xanh cỡ to. Từ năm tài chính 2022, hạn ngạch riêng lẻ sẽ được áp dụng cho các loài mũi nhọn do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản lựa chọn. Về nguyên tắc, từ năm 2023, IQ sẽ được áp dụng cho tất cả các loài mục tiêu do TAC quản lý.
Các chính sách cho năm tài chính 2022 bao gồm:
Mỹ Hạnh (Theo seafoodsource)
Công ty CP Công nghệ 111 Việt Nam đã chính thức gia nhập Hội viên VASEP từ tháng 3 năm 2026. Xin chúc mừng và chúc Quý doanh nghiệp phát triển bền vững, đồng hành cùng Hiệp hội trong các hoạt động liên kết và nâng tầm thương hiệu thủy sản Việt Nam.
(vasep.com.vn) Việc nhiều quốc gia Trung Đông đóng cửa không phận đã gây phản ứng dây chuyền đối với vận tải hàng không quốc tế, trong đó hải sản tươi là nhóm chịu tác động rõ rệt nhất. Các chuyến bay chở hàng từ châu Âu sang châu Á bị hủy hoặc chuyển hướng, khiến hàng hóa chuỗi lạnh từng trung chuyển qua Doha, Dubai hay Abu Dhabi bị ùn ứ.
(vasep.com.vn) Dữ liệu thương mại cả năm 2025 cho thấy xuất khẩu philê cá tra, basa đông lạnh của Việt Nam sang Mỹ đạt khoảng 247,2 triệu pound, vượt mức khoảng 195,3 triệu pound philê cá rô phi đông lạnh của Trung Quốc. Đây là năm thứ hai liên tiếp cá basa dẫn đầu và tiếp tục nới rộng khoảng cách. Trong bối cảnh cá rô phi từng giữ vị trí thống lĩnh lâu dài, diễn biến này cho thấy trọng tâm thị trường đang dịch chuyển.
(vasep.com.vn) Sau khi Liên minh châu Âu (EU) áp thuế và thực hiện một số biện pháp trừng phạt đối với thủy sản Nga, thị trường từng dự báo xuất khẩu philê cá thịt trắng của Nga sang EU sẽ giảm mạnh. Tuy nhiên, dữ liệu thương mại năm 2025 cho thấy nguồn cung không suy giảm đáng kể và vẫn giữ vị trí quan trọng trong chuỗi chế biến của khu vực.
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, ngành Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam liên tục ghi nhận những cột mốc ấn tượng. Tuy nhiên, để giữ vững vị thế tại các thị trường trọng điểm và đáp ứng xu hướng tiêu dùng xanh, các doanh nghiệp bắt buộc phải đầu tư mạnh mẽ vào tự động hóa, công nghệ chế biến sâu và chuỗi cung ứng lạnh. Để giải quyết bài toán vốn đầu tư trung và dài hạn mà không làm ảnh hưởng đến hạn mức tín dụng ngắn hạn thu mua nguyên liệu, Công ty Cho thuê Tài chính TNHH BIDV-SuMi TRUST (BSL) sẵn sàng mang đến những giải pháp tài chính chuyên biệt và tối ưu nhất.
(vassep.com.vn) Tại một diễn đàn vừa qua của Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) ở Reykjavik, Iceland, Indonesia đã được công nhận là hình mẫu hàng đầu về quản lý nghề cá bền vững, đặc biệt là nghề cá quy mô nhỏ, hôm thứ Tư, theo một tổ chức chứng nhận quốc tế cho biết.
(vasep.com.vn) Trung Đông là một trong những khu vực thị trường quan trọng đối với thủy sản Việt Nam, trong đó tôm là một trong các mặt hàng xuất khẩu đáng chú ý. Tuy nhiên, những diễn biến căng thẳng quân sự tại khu vực này từ đầu năm 2026 đang làm dấy lên nhiều lo ngại về nguy cơ gián đoạn thương mại, logistics và chuỗi cung ứng thủy sản toàn cầu. Trong bối cảnh đó, xuất khẩu tôm Việt Nam sang Trung Đông cũng đang chịu những tác động nhất định, đồng thời phản ánh rõ những biến động của thị trường tôm thế giới.
(vasep.com.vn) Liên minh châu Âu (EU) ghi nhận mức nhập khẩu tôm cao kỷ lục trong năm 2025, cho thấy nhu cầu thị trường đang phục hồi mạnh mẽ sau giai đoạn biến động trước đó.
(vasep.com.vn) Từ đầu tháng 3/2026 đến nay, các cơ quan quản lý của Hoa Kỳ tiếp tục tăng cường kiểm soát đối với thủy sản nhập khẩu, đặc biệt liên quan đến an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và tuân thủ các quy định về môi trường. Những động thái này cho thấy xu hướng siết chặt các rào cản kỹ thuật đối với thủy sản nhập khẩu vào thị trường Mỹ, đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam.
(vasep.com.vn) Sản lượng cá nuôi của Brazil đã vượt mốc 1 triệu tấn trong năm 2025, theo Niên giám Nuôi trồng Thủy sản Brazil 2026 do Hiệp hội Peixe BR công bố. Tổng sản lượng đạt 1.011.540 tấn, tăng 4,41% so với năm 2024, qua đó củng cố vị thế của nuôi cá là một trong những ngành tăng trưởng của nông nghiệp Brazil.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn