Năm 2030 sản lượng cá tra 2.000.000 tấn và phế phụ phẩm cá tra là 1.300.000 tấn
Theo các đề án phát triển đã được phê duyệt, đến năm 2030, sản lượng tôm nước lợ 1.300.000 tấn và sản lượng cá tra 2.000.000 tấn. Khi đó, sản lượng phế phụ phẩm tôm nước lợ là 650.000 tấn (50% của tổng sản lượng tôm) gồm đầu và vỏ tôm, với giá bán trung bình hiện nay 3 - 4 triệu đồng/tấn thì giá trị là 1.950 - 2.600 tỷ đồng, tương đương 78 - 104 triệu USD. Sản lượng phế phụ phẩm cá tra 1.300.000 tấn (65% của tổng sản lượng cá tra), với giá trung bình hiện nay 8 - 10 triệu đồng/tấn thì giá trị là 10.400 - 13.000 tỷ đồng, tương đương 416 – 520 triệu USD.
Năm 2030, tiềm năng có thể sản xuất thực phẩm từ đầu tôm 490.000 tấn; Thịt vụn, dè và dạ dày cá tra 100.000 tấn; Mỡ cá tra 150.000 tấn. Tiềm năng có thể sản xuất thức ăn chăn nuôi từ vỏ tôm 146.000 tấn; Đầu xương và nội tạng cá 900.000 tấn/năm. Tiềm năng chế biến phục vụ các ngành y, dược, mỹ phẩm, công nghiệp khác từ đầu vỏ tôm 147.000 tấn; Da, bong bóng cá 80.000 tấn. Tiềm năng đầu tư chế biến sâu từ phế phụ phẩm là rất lớn.
Đối với phế phụ phẩm tôm, một ký đầu tôm bán thô làm thức ăn gia súc giá chỉ khoảng 2.000 đồng; Dùng để sản xuất bột tôm, muối tôm, giá 100.000 đồng. Còn nghiên cứu ra chất chitosan dùng làm màng bọc thực phẩm, nhựa nhân tạo và nhiều lĩnh vực khác thì giá bán đến 400 - 500 USD/kg; sử dụng trong ngành y tế như băng y tế, tái tạo da nhân tạo thì giá lên tới 1.000 USD/kg. Hiện tại trên cả nước, đầu vỏ tôm chủ yếu chế biến khô dùng cho chăn nuôi với giá bán chỉ 30.000 – 40.000 đồng/kg. Cả nước mới có 1 – 2 cơ sở quy mô công nghiệp chế biến chitine và chitosan với công suất một năm vài trăm tấn sản phẩm.
Còn rất nhiều sản phẩm để lựa chọn đầu tư phát triển, tạo ra giá trị cao hơn so với làm khô dùng cho chăn nuôi. Đó là, chế biến đầu tôm khô làm thực phẩm (bột đầu tôm, bột hương vị tôm…); Chế biến chitosan và chitin dùng cho các ngành y, dược, mỹ phẩm, ngành nông nghiệp và công nghiệp sợi; Chế biến phân bón hữu cơ cao cấp, dịch tôm thủy phân và các sản phẩm khác.
Với phế phụ phẩm cá tra, hiện nay trên 60% được sản xuất bột cá. Bình thường một ký phế phụ phẩm cá tra được 0,2 kg dầu cá thô và 0,3 kg bột cá có giá bản thấp, lợi nhuận khoảng 1.000 – 2.000 đồng/kg nguyên liệu. Nếu đầu tư cơ sở chế biến hiện đại có công nghệ tiên tiến để chế biến các sản phẩm cao cấp về y dược, mỹ phẩm, thực phẩm ăn liền (Giò chả, gelatin, collagen, dầu cá tinh chế,….) sẽ cho hiệu quả cao hơn nhiều lần. Đó là chế biến ra thực phẩm làm sẵn, ăn liền từ thịt vụn và da cá (giò, chả, snack,..); dầu cá tinh luyện cao cấp có hàm lượng omega 3 cao từ mỡ cá; Gelatin, collagen từ da cá dùng cho ngành y dược, mỹ phẩm, đồ uống, thực phẩm chức năng; Phân hữu cơ cao cấp và các sản phẩm khác.
Chế biến sản phẩm cao cấp thì thị trường tiêu thụ mở rộng. Với thị trường nội địa, hầu hết các sản phẩm chế biến từ phế phụ phẩm tôm và cá tra đều được tiêu thụ vì có hàm lượng protein cao để làm ra các sản phẩm cung cấp cho nhiều lĩnh vực khác nhau; góp phần thay thế hàng nhập khẩu hiện nay. Về thị trường xuất khẩu, là một trong những nước dẫn đầu thế giới về cá tra và tôm nước lợ nên Việt Nam có nhiều lợi thế cạnh tranh.
Mục tiêu đến năm 2030, sản lượng tôm nước lợ 1.300.000 tấn và trong chế biến sẽ có 650.000 tấn phế phụ phẩm là đầu, vỏ tôm
Trước đây dầu cá tra xuất đi Campuchia, Trung Quốc, Đài Loan dưới dạng thô với giá bán thấp; nếu chế biến ra các sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế như colagen, gelatin, chitine và chitosan, dầu cá tinh chế cao cấp… sẽ có nhiều thị trường tiêu thụ, mang về nhiều ngoại tệ.
Tôm nước lợ và cá tra là 2 mũi nhọn phát triển ngành thủy sản từ nay đến năm 2030, nên lĩnh vực chế biến phế phụ phẩm có nguồn nguyên liệu dồi dào và ổn định với sản lượng hàng triệu tấn. Việt Nam đã tham gia vào các tổ chức khu vực và thế giới như ASEAN, APEC, WTO và đã ký 13 Hiệp định thương mại tự do với các nước. Nhu cầu thủy sản của thị trường thế giới đặc biệt lớn như Trung Quốc, Mỹ, EU và xu hướng ngày càng tăng.
Thị trường nội địa có nhu cầu tiêu dùng sản phẩm từ chế biến phế phụ phẩm ngày càng tăng cả về số lượng và đòi hỏi cao về chất lượng. Quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, việc sử dụng các sản phẩm chế biến từ phế phụ phẩm dần được người tiêu dùng chấp nhận với hệ thống thương mại siêu thị phát triển.
Các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội tiếp thu khoa học công nghệ hiện đại, kỹ thuật tiên tiến từ các nước phát triển, tranh thủ được vốn đầu tư nước ngoài và các nguồn lực quan trọng khác để đầu tư chế biến sâu, tinh phế phế phụ phẩm thủy sản thành sản phẩm cao cấp. Phát huy được những điểm mạnh về lợi thế so sánh của tôm nước lợ và cá tra. Tốc độ phát triển ngành hàng 3-5%/năm, đặc biệt ở những vùng trọng điểm như ĐBSCL, Đông Nam Bộ; có nhiều trang trại nuôi tôm và cá tra lớn.
Thực tế, trên 750 cơ sở quy mô công nghiệp có đủ năng lực chế biến các loại thủy sản khác nhau; nhiều doanh nghiệp đã đầu tư công nghệ tiên tiến chế biến sâu sản phẩm tôm và cá tra tạo giá trị gia tăng cao. Đã hình thành hệ thống phân phối, tiêu thụ phế phụ phẩm để tạo ra các sản phẩm phong phú. Lượng phế phụ phẩm có tiềm năng lớn và ngày càng tăng, việc tái chế sẽ nâng cao giá trị sản phẩm. Tái sử dụng phế phẩm còn giảm phát khí thải nhà kính, bảo vệ môi trường, góp phần hướng tới một nền kinh tế xanh và bền vững.
Ngành chế biến phế phục phẩm tôm và cá tra cũng đang đối diện nhiều thách thức.
Trước triên là những điểm yếu của nội tại ngành. Ngoài khu vực ĐBSCL ra, còn các khu vực khác của đất nước thì quy mô sản xuất tôm, cá còn nhỏ lẻ, chưa thật sự hình thành một ngành theo hướng hiện đại. Cơ sở hạ tầng logistics phục vụ cho sản xuất, chế biến và phân phối lưu thông phế phụ phẩm tôm và cá tra còn thiếu và yếu, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, chi phí dịch vụ cao nên giá bán cao, hao hụt lớn, chất lượng giảm nhanh.
Cơ sở chế biến phế phụ phẩm phần lớn quy mô nhỏ và vừa, nguồn vốn hạn hẹp nên năng lực cạnh tranh thấp. Các nguồn lực khác (công nghệ, nhân lực, năng lực quản trị và hội nhập) còn kém đã hạn chế đến quá trình đầu tư chuyển đổi cơ cấu sản phẩm, hiệu quả thấp. Thiếu chiến lược phát triển nên đầu tư còn dàn trải.
Phế phụ phẩm tôm và cá tra rất dễ hỏng do hàm lượng protein và mỡ cao cần chế biến trong thời gian ngắn. Khối lượng lại cồng kềnh, cần diện tích trữ lớn để thu gom. Hàm lượng nước cao gây khó khăn trong vận chuyển, bảo quản. Giá đầu ra của sản phẩm nhìn chung biến động lớn và không ổn định.
Còn có những thách thức về tư duy, quản lý và cạnh tranh. Nhận thức chung của cộng đồng (kể cả doanh nghiệp) chưa cao, phần đông vẫn xem phế phụ phẩm là thứ thải loại, có giá trị thấp nên chưa quan tâm đầu tư. Trong lúc, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm với mặt hàng phế phụ phẩm chế biến của thị trường ngày càng cao, khắt khe và phức tạp, đặc biệt là thị trường nước ngoài. Khi thị trường mở rộng, các công ty của nước ngoài cũng sẽ có cơ hội thuận lợi thâm nhập thị trường trong nước, đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải nâng cao năng lực cạnh tranh để đối phó với nguy cơ mất thị trường trên sân nhà.
Không thể không kể đến khó khăn về khách quan mà lớn nhất là biến đổi khí hậu. Việt Nam là 1 trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng lớn của biến đổi khí hậu, đe dọa sản xuất thủy sản, ảnh hưởng lớn đến nguyên liệu phục vụ chế biến.
Những thách thức này kỳ vọng sẽ được hóa giải trong nỗ lực phát huy các cơ hội khai thác tiềm năng thế mạnh, đem lại lợi ích to lớn.
Theo Báo Tép bạc
(vasep.com.vn) Bộ trưởng Thủy sản và Nuôi trồng Thủy sản Brazil Edipo Araujo vừa có chuyến công tác tới bang São Paulo nhằm khảo sát mô hình nuôi cá rô phi tại khu vực Águas da União, trong khuôn khổ hợp tác kỹ thuật giữa Brazil và Paraguay. Chuyến thăm tập trung vào việc đánh giá tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản tại hồ chứa của Nhà máy Thủy điện Itaipu – một trong những công trình thủy điện lớn nhất thế giới, nằm tại Foz do Iguaçu.
(vasep.com.vn) Phụ phẩm từ trứng đang được đánh giá là nguồn nguyên liệu giàu cholesterol và phospholipid có khả năng thay thế một phần nguyên liệu biển truyền thống trong thức ăn tôm thẻ chân trắng.
(vasep.com.vn) Nga ghi nhận tăng trưởng xuất khẩu cua trong năm 2025, nhưng giá trị gần như không tăng do giá giảm tại các thị trường chủ lực, đặc biệt là Trung Quốc.
(vasep.com.vn) Một báo cáo mới của Ủy ban châu Âu cho thấy ngành khai thác thủy sản EU đang đối mặt nhiều thách thức nghiêm trọng, dù đội tàu đã liên tục thu hẹp về quy mô và công suất. Nghiên cứu do Cơ quan Điều hành Khí hậu, Hạ tầng và Môi trường châu Âu (CINEA) đặt hàng chỉ ra rằng việc “giảm tải” này vẫn chưa giải quyết được sự mất cân đối giữa năng lực khai thác và nguồn lợi thủy sản.
(vasep.com.vn) Xuất khẩu tôm Ấn Độ bước vào năm 2026 với bức tranh hai chiều: sản lượng và khối lượng xuất khẩu vẫn duy trì tốt, nhưng thị trường Mỹ suy giảm mạnh do áp lực thuế quan và các vụ việc phòng vệ thương mại. Trong bối cảnh đó, Ấn Độ đang tăng tốc chuyển hướng sang Trung Quốc, EU và Nhật Bản, tạo thêm sức ép cạnh tranh cho các nhà cung cấp tôm khác, trong đó có Việt Nam.
Các nhà khoa học quốc tế tại Đại học Hải dương Thượng Hải (SHOU) đang tận dụng công nghệ của Trung Quốc để thúc đẩy an ninh lương thực toàn cầu thông qua nghiên cứu nguồn gen thủy sản.
(vasep.com.vn) Một báo cáo mới công bố của Đài quan sát Thị trường Thủy sản và Nuôi trồng Thủy sản châu Âu (EUMOFA) tại Hội chợ Thủy sản Toàn cầu 2026 cho thấy ngành thủy sản EU đang phải thích nghi với giai đoạn biến động kéo dài sau hàng loạt cú sốc từ năm 2019 đến nay.
(vasep.com.vn) Theo báo cáo mới từ Minato Shimbun, xuất khẩu cá minh thái đông lạnh của Japan trong năm 2025 tăng 42% so với cùng kỳ năm trước, đạt hơn 62.000 tấn, đánh dấu sự phục hồi sau hai năm suy giảm.
Chính phủ ban hành Nghị định số 144/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 1/7/2025 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 359/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn