Nguồn cung
Sản lượng tôm nuôi năm 2015 ước đạt 2 triệu tấn do dịch bệnh ở Trung Quốc, Ấn Độ, Ecuador và Việt Nam. Ở các nước sản xuất này, người nuôi giảm mật độ thả nuôi để giảm khả năng xuất hiện bệnh trên tôm.
Ở Việt Nam, người nuôi đã chuyển từ tôm chân trắng sang tôm sú do mất cân bằng về cung cầu đối với tôm chân trắng. XK tôm giảm trong khi NK tăng cho thấy sản lượng tôm nuôi của nước này giảm.
Tại Ấn Độ, sản lượng tôm nuôi năm 2015 giảm 10-20% so với năm 2014 do giá thị trường giảm và thời tiết xấu. Tình hình cũng không mấy sáng sủa ở Indonesia với sản lượng tôm giảm trong nửa cuối năm 2015, nhu cầu thức ăn nuôi tôm và XK sang một số thị trường quan trọng đều giảm.
Trong bối cảnh sản xuất tôm ảm đạm ở châu Á năm 2015, Thái Lan là một ngoại lệ với sản lượng lần đầu tiên tăng kể từ năm 2012 với 260.000 tấn. Xu hướng này được dự báo sẽ tiếp tục trong năm 2016 với sản lượng dự kiến tăng khoảng 10%.
Tại Ecuador – nước sản xuất tôm lớn nhất ở Mỹ Latinh – bắt đầu từ tháng 9/2015, người nuôi giảm mật độ thả nuôi để tránh bệnh trên tôm. Ở Mexico, tình hình dịch bệnh đã được khắc phục, sản lượng tôm phục hồi lên 80.000-85.000 tấn năm 2015 so với 70.000 tấn năm 2014.
Nhìn chung, giá nguyên liệu ở châu Á bắt đầu tăng trong tháng 12/2015 do không phải chính vụ sản xuất trong giai đoạn từ tháng 11/2015 đến tháng 4/2016.
Tại Argentina, sản lượng khai thác tôm đạt 140.000 tấn trong năm 2015, tăng 10% so với năm 2014. Sản lượng tăng cộng với đồng USD tăng giá và khủng hoảng kinh tế ở Trung Quốc đã ảnh hưởng xấu tới giá. Giá có xu hướng đi xuống trong cả năm 2015. Xu hướng giá giảm này có khả năng tiếp tục trong năm 2016 do lượng tồn kho năm 2015 và cao và sản lượng tôm khai thác dự kiến tăng mạnh trong năm 2016.
Xu hướng xuất nhập khẩu
Mặc dù giá tôm thế giới giảm, NK tôm vào các thị trường lớn truyền thống trong 9 tháng đầu năm 2015 vẫn thấp hơn so với cùng kỳ năm 2014. NK tôm vào thị trường dẫn đầu (Mỹ) tăng chỉ 2,1% và giảm 1,6% đối với thị trường EU (trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 8 năm 2015) và giảm 3,4% ở Nhật Bản. Cả EU và Nhật Bản đều bị tác động từ giá trị đồng nội tệ giảm.NK tôm vào Australia giảm 20% vì lý do tương tự. Tuy nhiên, NK tăng ở các thị trường như Hàn Quốc (+11.6%), Trung Quốc (+24%), Đài Loan (+11%) và Canada (+22%).
Trong giai đoạn này, Việt Nam vẫn là thị trường hấp dẫn đối với tôm đông lạnh và NK tăng gần gấp đôi.
Chín tháng đầu năm 2015, XK tôm từ Ấn Độ và Ecuador (2 nước XK tôm lớn) tăng 10% và 15%, lần lượt đạt 280.000 tấn và 257.000 tấn. Tuy nhiên, giá trị XK giảm do giá tôm thế giới giảm.
Các thị trường NK hàng đầu của Ấn Độ là Mỹ, Việt Nam, EU, Nhật Bản và Trung Quốc. XK tôm Ấn Độ tăng ở các thị trường Trung Đông như Kuwait, Qatar và Ai Cập và các nước láng giềng như Sri Lanka và Maldives. Đối với Ecuador, Việt Nam là thị trường NK lớn nhất, tiếp đó là EU, Mỹ, Trung Quốc và Hàn Quốc. Đáng chú ý, Ecuador đã đẩy mạnh XK sang các thị trường ở châu Á.
9 tháng đầu năm 2015, XK tôm Thái Lan tăng 3,4%; chủ yếu là tôm giá trị gia tăng. Trên thị trường Mỹ và Nhật Bản, 63% và 66% tôm NK từ Thái Lan là các sản phẩm tôm chế biến. Trong giai đoạn này, XK tôm của Trung Quốc giảm 22% trong khi XK tôm của Việt Nam ước đạt 175.000-180.000 tấn, giảm so với cùng kỳ 2014.
Nhật Bản
Giá tôm thấp làm tăng nhu cầu tôm ở các phân khúc bán lẻ và dịch vụ thực phẩm ở Nhật Bản từ giữa năm 2015. Các siêu thị ở đây đã bắt đầu những chiến dịch quảng cáo bán tôm nhiệt đới từ tháng 7 đến tháng 12/2015. Nhu cầu tôm chân trắng, tôm sú và tôm tự nhiên cỡ lớn trong phân khúc dịch vụ thực phẩm tăng cùng với tồn kho các mặt hàng này ở mức thấp. Tháng 12/2015, giá XK tôm sú bỏ đầu cỡ 16/20 từ Ấn Độ đạt 10,50 USD/kg; rẻ hơn 1 USD so với 1 năm trước đó.
Mặc dù giá tôm thấp hơn, tổng NK tôm vào Nhật Bản từ tháng 1-tháng 9/2015 giảm 3,3% so với cùng kỳ 2014. NK tôm chế biến và tôm sushi dùng với cơm tăng 21%. Xu hướng này tiếp tục trong tháng 10/2015. Thái Lan và Việt Nam là các nhà cung cấp tôm giá trị gia tăng hàng đầu cho Nhật Bản.
Mỹ
Thị trường tôm Mỹ có nhiều biến động trong năm 2015 do giá bán buôn không ổn định trong khi tồn kho ở các kênh phân phối nội địa vẫn cao. Tồn kho tôm nâu khai thác tự nhiên của Mexico vẫn còn từ vụ khai thác trước đó. Giá tôm khai thác nội địa của Mỹ vẫn thấp và NK tôm từ Mexico và Mỹ Latinh vào Mỹ dự kiến tăng. Do vậy, các nhà NK Mỹ vẫn chưa nhập nhiều mặc dù giá NK giảm.
Tổng giá trị NK tôm vào Mỹ giảm 18,4% trong 9 tháng đầu năm 2015. Khối lượng NK tăng 2,1% trong giai đoạn này. Trong số các nguồn cung cấp chính, Mỹ tăng NK từ Ấn Độ, Indonesia và Thái Lan tuy nhiên giảm NK từ Ecuador và Việt Nam.
NK tôm còn vỏ giảm 3% trong khi NK tôm lột vỏ tăng nhẹ. Hai mặt hàng này chiếm 77% tổng NK tôm vào Mỹ trong 9 tháng đầu năm 2015. NK tôm bao bột và một số mặt hàng tôm chế biến khác tăng nhẹ, điều này cho thấy nhu cầu thị trường nhìn chung tăng. Từ quý IV/2015, tiêu thụ tôm có xu hướng tăng. Trong giai đoạn cuối năm 2015, giá tôm bán buôn ổn định.
EU
Năm 2015, nhu cầu tôm nói chung ở EU vẫn yếu trong bối cảnh giá NK giảm và giá tôm tính theo EUR tăng. NK tôm từ ngoại khối vào EU giảm 1,6% trong 8 tháng đầu năm 2015. Các xu hướng nguồn cung từ 5 nguồn cung chính cho thị trường này lên xuống thất thường trong giai đoạn này. EU tăng NK tôm từ Ecuador, Argentina và Việt Nam tuy nhiên giảm NK từ Greenland và Ấn Độ.
Trong số 5 thị trường NK tôm lớn nhất khối EU, NK tôm vào Tây Ban Nha tăng 8%, Pháp tăng 23,7%, tuy nhiên NK giảm ở các thị trường như Anh (-6%), Hà Lan (-4,4%) và Italy (-6%) so với cùng kỳ 2014.
Đối với các thị trường ngoài EU, nhu cầu NK vẫn yếu trong giai đoạn này. NK tôm vào Thụy Sỹ và Na Uy lần lượt giảm 10,5% và 1,3%. NK vào Nga giảm mạnh 60% với chỉ 14.598 tấn trong 9 tháng đầu năm 2015, chủ yếu do lệnh cấm NK thực phẩm áp đặt bởi Nga trong giai đoạn này.
Giá XK tôm giảm mạnh trên thị trường EU trong tháng 11 và 12/2015, chủ yếu do tác động từ cuộc tấn công khủng bố ở Paris. USD tăng giá, đặc biệt vào đầu tháng 12/2015 đã làm lợi cho các nước như Ecuador, Ấn Độ và Indonesia (các nước giao dịch bằng USD). Nhu cầu thị trường EU tập trung vào các sản phẩm cỡ nhỏ và trung bình do giá các sản phẩm cỡ lớn cao. Tuy nhiên, nhu cầu từ thị trường này sau năm mới vẫn ảm đạm.
Châu Á và các thị trường khác
Giá tôm thấp khiến nhu cầu NK tôm tốt hơn ở nhiều thị trường châu Á. Trong 9 tháng đầu năm 2015, Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc và Đài loan đều tăng NK tôm so với cùng kỳ năm trước đó. NK tôm vào các thị trường Trung Đông như Ả Rập Saudi, UAE, Kuwait, Oman, và Ai Cập cũng tăng trong giai đoạn này.
Việt Nam tiếp tục là điểm đến quan trọng của các nhà cung cấp tôm từ châu Á và Mỹ Latinh. NK tôm đông lạnh vào Việt Nam đạt gần 150.000 tấn trong giai đoạn 9 tháng đầu năm 2015 so với 77.000 tấn của cùng kỳ 1 năm trước đó. Sự tăng trưởng này khiến Việt Nam trở thành nhà NK tôm đông lạnh số 1 châu Á.
Tại các thị trường Đông Nam Á, giá tôm tăng mạnh trong năm 2015. Cụ thể, giá tôm tươi còn đầu trong giao dịch bán lẻ Malaysia tăng gần gấp đôi trong năm 2015 trong khi nguồn cung ở nước này tiếp tục giảm.
Giá tôm trên thị trường nội địa Trung Quốc cao hơn giá thế giới. Kết quả là, người nuôi tôm nước này muốn bán tôm sống cho thị trường tiêu thụ trong nước hơn là bán cho các nhà máy chế biến.
Dự báo
Nhìn chung, nguồn cung tôm nuôi ở châu Á vẫn thấp cho tới khi vụ khai thác mới bắt đầu vào khoảng đầu tháng 4/2016. Nhu cầu tôm ở Đông Nam Á tăng với giá cao trong giai đoạn năm mới (tháng 2/2016). Ở hầu hết các nước sản xuất ở châu Á, giá nguyên liệu đã chạm đáy và bắt đầu tăng. Nhu cầu tiêu thụ ở Mỹ và Nhật Bản được cải thiện từ cuối năm 2015. Thị trường tôm có nhiều dấu hiệu tích cực trong năm 2016. Ngược lại, nguồn cung trên thị trường EU vẫn cao đặc biệt là tôm cỡ lớn từ Argentina. Do vậy, giá tôm trên thị trường này sẽ không tăng trong quý đầu năm 2016.
Nhằm thúc đẩy hợp tác công tư, huy động nguồn lực và tăng cường liên kết giữa các bên trong phát triển ngành tôm theo hướng bền vững và kinh tế tuần hoàn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, thông qua Đối tác Phát triển bền vững nông nghiệp Việt Nam (PSAV), phối hợp với Hội đồng Ngũ cốc và Sinh phẩm Hoa Kỳ (USGBC) tổ chức Diễn đàn Đối tác công tư (PPP) thúc đẩy Kinh tế tuần hoàn ngành Tôm khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
(vasep.com.vn) Xuất khẩu thủy sản của Nhật Bản trong tháng 7/2026 ghi nhận diễn biến trái chiều khi sản lượng giảm mạnh nhưng giá trị vẫn tăng so với cùng kỳ năm trước. Theo số liệu thương mại của Bộ Tài chính Nhật Bản, tổng lượng thủy sản xuất khẩu, gồm thủy sản tươi sống, sản phẩm chế biến và bột cá, đạt 38.597 tấn, giảm 35%, trong khi kim ngạch đạt 30,53 tỷ yên, tăng 15%.
(vasep.com.vn) Cơ quan quản lý cảng New Mangalore (NMPA) vừa xử lý thành công lô hàng bột cá xuất khẩu lên tới 3.000 tấn. Toàn bộ lô hàng được đóng trong các bao jumbo và bốc xếp lên tàu MV CHRISTINA tại Cầu cảng số 4.
(vasep.com.vn) Chi phí thức ăn hiện chiếm từ 60% đến 85% tổng chi phí sản xuất tại các trại nuôi cá tra ở Nam Á và Đông Nam Á. Với vị thế là khu vực sản xuất cá da trơn lớn nhất thế giới—trong đó Việt Nam dẫn đầu với 1,75 triệu tấn vào năm 2023, chiếm 51% tổng sản lượng toàn cầu—việc cải thiện hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) đóng vai trò quyết định giúp nhà nông bảo đảm và gia tăng lợi nhuận.
Văn phòng Hiệp hội xin vô cùng thương tiếc báo tin:
(vasep.com.vn) Ngày 14/9/2026, Hạ viện Mỹ đã thông qua dự luật "Thực thi chống đánh bắt Cá hồng và Cá ngừ bất hợp pháp" (Illegal Red Snapper and Tuna Enforcement Act) lên Tổng thống Donald Trump để ký ban hành thành luật.
(vasep.com.vn) Nhu cầu đối với các nguyên liệu biển dùng để sản xuất bột cá và dầu cá tiếp tục tăng, trong khi nhiều dấu hiệu đang cho thấy ngành nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm, có thể phải đối mặt với một khoảng thiếu hụt nguồn cung đáng kể trong những năm tới.
(vasep.com.vn) Đức đang nổi lên như một trung tâm đổi mới quan trọng trong lĩnh vực nuôi cá hiện đại, dù sản lượng thủy sản nuôi trong nước còn tương đối khiêm tốn. Theo báo cáo mới nhất của Hatch Blue, khoảng 90% thủy sản tiêu thụ tại Đức hiện phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu.
(vasep.com.vn) Hiệp hội Cá minh thái và Viện Nghiên cứu Thực phẩm dành cho Trẻ em thuộc Trung tâm Nghiên cứu Liên bang về Dinh dưỡng và Công nghệ sinh học Nga vừa ký thỏa thuận hợp tác bên lề Diễn đàn Kinh tế Phương Đông (EEF), nhằm phát triển các dòng sản phẩm từ cá dành cho trẻ em.
(vasep.com.vn) Trong quá trình tìm kiếm hướng đi mới cho ngành cá rô phi, phát triển nuôi trong môi trường nước lợ có thể mở ra một lợi thế khác biệt cho Việt Nam. Thay vì cạnh tranh chủ yếu về sản lượng và giá thành với những quốc gia có ngành rô phi phát triển, Việt Nam có thể tạo dấu ấn bằng những sản phẩm cá rô phi chất lượng cao, gắn với điều kiện nuôi đặc thù và phân khúc thị trường giá trị gia tăng.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn