Các sản phẩm nuôi trồng thủy sản của Bangladesh được xuất khẩu sang hơn 50 quốc gia trên toàn thế giới, các thị trường nhập khẩu chính là EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nga và Trung Quốc. Tuy nhiên, cá được sản xuất để xuất khẩu chiếm chưa đến 2% tổng sản lượng của cả nước.
Trong năm 2020, xuất khẩu cá đông lạnh của Bangladesh đạt 55,48 triệu USD. Một số loại cá xuất khẩu cho 12 triệu người Bangladesh sống ở nước ngoài (chủ yếu ở Trung Đông và Anh) chủ yếu là cá chép và cá hilsha. Ước tính hơn 95% tổng số cá xuất khẩu là cá thịt trắng (có xương) của các giống địa phương chủ yếu phục vụ cộng đồng người Bangladesh. Điều này có nghĩa là các nhà chế biến cá Bangladesh đã không bắt được thị hiếu của người tiêu dùng quốc tế đối với cá biển như họ đã làm với tôm xuất khẩu. Đối với cá ướp lạnh, thị trường xuất khẩu lớn nhất là Ấn Độ, đóng góp tới 71,4% tổng kim ngạch xuất khẩu cá ướp lạnh từ Bangladesh trong năm 2019. Trong số tất cả các loài cá ướp lạnh, cá hilsha chỉ được phép xuất khẩu sang Ấn Độ . Điều thú vị là nhiều nhà chế biến cá tham gia vào cả chế biến tôm và cá, tuy nhiên, họ không tách biệt tôm và cá trong báo cáo xuất khẩu hàng năm trình BFFEA.
Ưu đãi nhập khẩu của thị trường phương Tây
Do thường xuyên thiếu hụt cá, EU, Hoa Kỳ và Nhật Bản đã trở thành 3 thị trường chính nhập khẩu cá toàn cầu. Nhật Bản là nhà nhập khẩu lớn nhất thế giới về cá ngừ tươi và đông lạnh, ở dạng nguyên con hoặc thăn, trong khi thị trường Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu lại có nhiều nhu cầu cá ngừ đóng hộp hơn. Các nước châu Phi nhập khẩu các loài cá nổi nhỏ rẻ hơn như cá thu hoặc cá rô phi, là nguồn quan trọng để đa dạng hóa chế độ ăn.
Tại EU, 5 loài được tiêu thụ nhiều nhất là cá ngừ, cá hồi, cá tuyết, cá minh thái Alaska và tôm, trong đó mức tự cung của EU chỉ đạt trung bình 14% trong năm 2018. Nhuyễn thể chân đầu (chủ yếu là mực và mực nang), động vật giáp xác như tôm, cá chế biến như thăn cá ngừ, cá ngừ đóng hộp và philê cá như cá tra chiếm lĩnh nhập khẩu từ các nước đang phát triển vào Nam Âu- thị trường tiêu thụ lớn nhất của châu Âu.
Năng lực sản xuất và chế biến cá hạn chế để phù hợp với thị trường quốc tế
Một loài có tiềm năng xuất khẩu ngày càng tăng trên thị trường quốc tế là cá chẽm Châu Á, bao gồm các nước như Đài Loan, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Châu Âu, và loài này có thể mang lại lợi nhuận tốt hơn tôm. Nhưng do thiếu trại giống, Bangladesh phải dựa vào cá chẽm châu Á đánh bắt tự nhiên và quy mô sản xuất của địa phương còn hạn chế. Một mặt hàng cá nhập khẩu phổ biến khác từ các nước đang phát triển là philê cá đông lạnh, nhưng các loài chủ yếu được sản xuất dồi dào trong nước, trong đó có cá chép, có rất nhiều xương nhỏ khiến việc chế biến philê cá trở nên khó khăn.
Mặc dù có cơ hội tham gia vào lĩnh vực chế biến để tận dụng phân khúc cá “chế biến ăn liền” đang phát triển, nhưng chỉ có một số ít doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến cá. Ở miền Tây, có hai hình thức chế biến là đông lạnh và ướp lạnh, trong khi ở miền Đông chế biến để ăn liền (cá tẩm bột). Ngoài ra, chỉ có 25-30 nhà chế biến cá đăng ký với Hiệp hội Xuất khẩu Cá Đông lạnh Bangladesh (BFFEA). Theo BFFEA, tổng công suất sản xuất cá đông lạnh là 400.000 tấn, nhưng công suất sử dụng hiện tại chỉ ở mức 30.000 tấn do thiếu nguyên liệu.
Biến động giá cả trên thị trường quốc tế
Ngay cả trước khi xảy ra đại dịch, căng thẳng địa chính trị giữa hai trong số các nhà kinh doanh cá lớn nhất thế giới là Trung Quốc và Hoa Kỳ, đã ảnh hưởng đến thu nhập xuất khẩu của Bangladesh do sự biến động giá đặc biệt trên nhiều chủng loại cá. Trong năm 2019, giá đạt mức thấp hoặc cao kỷ lục đối với một số loài chủ lực, bao gồm cá ngừ, cá tra và cá hồi; trong khi Chỉ số giá cá của FAO giảm khoảng 6 điểm trong năm. Người mua quốc tế thường chọn các lựa chọn thay thế rẻ hơn cho các loại cá khác nhau bao gồm cả cá chẽm châu Á, có giá cao hơn tại thị trường địa phương của chúng tôi.
Nhận thức tiêu cực về chất lượng cá
Khối lượng xuất khẩu tôm của Bangladesh đã giảm mạnh trong 3 năm qua (CAGR -5,8% từ 2014-2019). Một lý do đằng sau việc xuất khẩu giảm sút như vậy là do các lô hàng có tôm tạp chất đã bị các nhà nhập khẩu ở nước ngoài phát hiện. Đã có những cáo buộc về việc tiêm chích agar, kẹo cao su, nước, tinh bột gạo và các chất khác vào tôm sú, vốn chiếm 71,4% tổng lượng tôm xuất khẩu của cả nước, để tăng trọng lượng và khiến chúng trông khỏe mạnh hơn. Điều này làm xấu hình ảnh của Bangladesh và có thể ảnh hưởng đến việc xuất khẩu các loại cá khác, làm giảm xuất khẩu sang các thị trường nước ngoài.
Nuôi trồng thủy sản, ngoài tôm, được phát triển chủ yếu nhắm vào thị trường nội địa, những thị trường không thực thi các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm. Do đó, việc đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn và chứng nhận quốc tế là một thách thức lớn. Nghiên cứu kéo dài 4 năm do Cơ quan Phát triển Quốc tế Đan Mạch (DANIDA) tài trợ từ năm 2015 đến 2019, cho thấy sản lượng chất lượng thấp do quản lý nguồn nước và thức ăn cho cá kém là nguyên nhân làm mất đi sự quan tâm của người tiêu dùng đối với cá rô phi và cá tra ở thị trường trong và ngoài nước, trong khi các nước khác đang dựa vào xuất khẩu của họ. Bangladesh có cơ hội lớn cho xuất khẩu cá rô phi và cá tra do sản lượng và nhu cầu ngày càng tăng.
Nuôi biển chưa được khám phá
Sau khi phân định ranh giới biển dẫn đến việc tiếp cận của ngư dân Bangladesh vào Khu vực ngoài quyền tài phán quốc gia (ABNJ) của vùng biển khơi, Bangladesh có cơ hội lớn để khai thác cá ngừ và các loài cá giống cá ngừ, một số loài phổ biến nhất ở EU. Tuy nhiên, nước này vẫn chưa khai thác được cá ngừ và các loài cá nổi tương tự ở biển khơi do không có kỹ thuật đánh bắt bằng câu vàng và lưới kéo và nhân lực được đào tạo. Trong khi các nước láng giềng Sri Lanka, Maldives và Ấn Độ đang kiếm được một khoản lớn từ việc xuất khẩu các loài như vậy, thì trong năm 2019-20, cá ngừ chỉ chiếm 0,13% (155,42 tấn) sản lượng khai thác công nghiệp ở Bangladesh.
Thiếu động lực trong việc phát triển năng lực chế biến cá
Ngành nuôi trồng thủy sản thiếu các động lực cần thiết để phát huy hết tiềm năng của mình trên thị trường quốc tế. Theo các nhà xuất khẩu tại BFFEA, cá đông lạnh không được coi là một sản phẩm nông nghiệp. Do đó, trong khi các sản phẩm chế biến từ nông sản khác được ưu đãi 20% tiền mặt, thì các nhà xuất khẩu cá chế biến lại nhận được ưu đãi tiền mặt từ Chính phủ Bangladesh lên tới 5% giá trị hóa đơn, lên tới mức giá trần là 1,97 USD/kg. Con số này so với ưu đãi tiền mặt 10% đối với xuất khẩu tôm đông lạnh, lên tới mức giá trần 4,90 USD/kg. Tỷ suất lợi nhuận kênh từ các siêu thị và thuế gián thu từ chính phủ chiếm ít nhất 1/3 giá bán lẻ, mang lại ít doanh thu cho các nhà chế biến cá. Sự biến động giá cả trên thị trường quốc tế cũng làm cho hoạt động đầu tư của các nhà chế biến không thuận lợi. Việc thiếu các ưu đãi dẫn đến việc giảm đầu tư vào việc mở rộng năng lực chế biến cá, do đó, hạn chế tiềm năng mở rộng của các công ty trên thị trường quốc tế.
Kém hiệu quả trong hệ thống chuỗi lạnh
Nhiều tầng lớp trung gian kết hợp với cơ sở hạ tầng đường sá kém hiệu quả, làm phức tạp thêm chuỗi cung ứng xuất khẩu thủy sản đòi hỏi các địa điểm có nhiều chuỗi lạnh. Do không đủ phương tiện lạnh chuyên dụng, cá cần được vận chuyển mà không có dây chuyền lạnh dẫn đến thất thoát thực phẩm. Việc bảo quản nông sản kém hiệu quả do thiếu các cơ sở dây chuyền lạnh cản trở lợi nhuận của ngành nuôi trồng thủy sản và khả năng phát huy hết tiềm năng xuất khẩu của ngành. Các khoản đầu tư vào cơ sở hạ tầng dây chuyền lạnh thường được coi là không có lãi do các ứng dụng quá tốn kém. Bản chất chủ nghĩa cá nhân của nông dân và người trung gian khiến các khoản đầu tư chung vào các cơ sở dây chuyền lạnh không hấp dẫn.
Con đường phía trước của ngành chế biến cá
Trong thế giới sau đại dịch, Bangladesh nên đánh giá lại vị thế của mình với các thị trường tiêu thụ tiềm năng để khai thác tiềm năng xuất khẩu to lớn này của ngành nuôi trồng thủy sản với các bước cần thiết như được nêu dưới đây:
Khai thác nuôi trồng thủy sản biển
Chỉ 15% tổng sản lượng cá ở Bangladesh có xuất xứ từ cá biển khai thác. Cần phải khám phá những cơ hội mới trong nuôi biển như một giải pháp thay thế khả thi để sản xuất nhiều cá hơn. Các thành phần tư nhân phải được khuyến khích để liên doanh và cần xây dựng chuyên môn để đánh bắt cá dài, đánh bắt cá ngừ và các loài cá khác ở vùng nước biển sâu, và vùng đặc quyền kinh tế ở Vịnh Bengal.
Thành lập trại giống cá xuất khẩu
Có vẻ như lý tưởng để thành lập thêm các trại giống có đăng ký để nuôi các loại cá có chất lượng hướng đến xuất khẩu như cá chẽm châu Á và cá ngừ. Các công ty tư nhân có thể phát triển năng lực phòng thí nghiệm và năng lực ở cấp trại giống để duy trì chất lượng cá nghiêm ngặt cho xuất khẩu. Điều này sẽ giúp tăng nguồn cung cấp các sản phẩm nuôi trồng thủy sản có thể xuất khẩu ra thị trường quốc tế và cũng góp phần duy trì các tiêu chuẩn cần thiết để đạt được chứng nhận xuất khẩu (như HACCP) để tiếp cận các thị trường quốc tế cao cấp.
Phát triển mạng lưới dây chuyền lạnh
Để giảm lãng phí trong sản xuất nuôi trồng thủy sản và đáp ứng các yêu cầu về vệ sinh và chất lượng khi thâm nhập vào các thị trường xuất khẩu cao cấp, cần mở rộng hệ thống bảo quản và vận chuyển theo dây chuyền lạnh tại khu vực chế biến chính, gần các cơ sở chế biến để tránh thất thoát thực phẩm. Bên cạnh việc phát triển các giải pháp chi phí thấp, việc rút ngắn chuỗi cung ứng sẽ giúp đầu tư có lợi hơn với ít điểm nóng về cơ sở dây chuyền lạnh hơn. Đầu tư chung của các nhóm nông dân sẽ khả thi hơn vì họ sẽ chia sẻ chi phí tài chính và người thu gom sẽ thấy hấp dẫn hơn khi lấy nguồn từ các cơ sở có khả năng tạo ra sản phẩm chất lượng cao với số lượng lớn.
(vasep.com.vn) Sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, các nhà máy chế biến cá rô phi tại khu vực miền Nam Trung Quốc đã dần khôi phục hoạt động, kéo theo nhu cầu thu mua nguyên liệu tăng lên và giúp giá cá tại ao nuôi nhích nhẹ. Tuy nhiên, triển vọng thị trường vẫn chịu tác động từ những bất ổn liên quan đến chính sách thuế quan của Mỹ và lượng tồn kho lớn tại thị trường nhập khẩu.
(vasep.com.vn) Thẩm phán Richard Eaton của Tòa án Thương mại Quốc tế Mỹ đã bác bỏ đề nghị của Cơ quan Hải quan và Bảo vệ Biên giới Mỹ (CBP) về việc gia hạn thời gian hoàn trả khoảng 166 tỷ USD tiền thuế quan được thu theo Đạo luật Quyền lực Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA).
(vasep.com.vn) Xuất khẩu của Trung Quốc ghi nhận mức tăng mạnh trong hai tháng đầu năm 2026, bất chấp căng thẳng thương mại với Mỹ. Theo BBC, tổng kim ngạch xuất khẩu của nước này tăng hơn 20% trong tháng 1 và 2, đưa Trung Quốc tiến gần tới khả năng vượt kỷ lục thặng dư thương mại đạt được trong năm 2025.
(vasep.com.vn) Trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông ngày càng gia tăng, thị trường thực phẩm toàn cầu đang đứng trước nhiều biến động về chi phí logistics, năng lượng và chuỗi cung ứng.
(vasep.com.vn) 2 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt 1,7 tỷ USD, tăng 20% so với cùng kỳ. Tôm và cá tra tiếp tục là “đầu kéo”, trong khi Trung Quốc & HK bứt phá +54% lên 513 triệu USD
(vasep.com.vn) Nghiên cứu mới của Nofima cho thấy cá hồi vân nuôi có khả năng tích trữ omega-3 trong phi lê cao hơn cá hồi Đại Tây Dương khi được cho ăn cùng một khẩu phần giàu dầu cá. Tuy nhiên, việc tăng hàm lượng omega-3 trong thức ăn lại không mang đến cải thiện đáng kể về sức khỏe hay tỷ lệ sống của cá hồi vân – qua đó đặt ra câu hỏi về hiệu quả sử dụng nguồn dầu cá vốn đang ngày càng hạn chế.
(vasep.com.vn) Năm 2025, nhập khẩu surimi cá minh thái của Thái Lan tăng 36% so với cùng kỳ, lần đầu vượt 10.000 tấn, đạt 10.374 tấn. Trong đó, Nga cung cấp 5.029 tấn, tăng 103%, chiếm 48,5% thị phần; Mỹ đạt 5.345 tấn, tăng 7%, tương đương 51,5%. Cục diện gần như cân bằng này đánh dấu sự thay đổi mạnh so với năm 2023, khi Mỹ chiếm 86,8% thị phần còn Nga chỉ 13,2%. Đến năm 2024, thị phần Mỹ giảm xuống 65,9% và tiếp tục thu hẹp còn 51,5% trong năm 2025.
(vasep.com.vn) Theo dữ liệu hải quan, xuất khẩu philê cá minh thái của Trung Quốc sang EU đạt khoảng 132.000 tấn trong năm 2025, duy trì mức tương đối ổn định ba năm gần đây. Tuy nhiên, thống kê nhập khẩu của EU lại cho thấy lượng hàng từ Trung Quốc giảm mạnh xuống 47.000 tấn trong năm 2024, so với 142.000 tấn của năm trước đó. Đến năm 2025, chênh lệch giữa số liệu hai phía đã lên tới gần 100.000 tấn. Song song đó, khối lượng philê cá minh thái được EU ghi nhận có xuất xứ Nga tăng liên tiếp trong hai năm 2024–2025.
(vasep.com.vn) Giá dầu tăng và chi phí vận tải leo thang có thể làm thay đổi cơ cấu tiêu dùng thủy sản tại Mỹ. Tôm chịu áp lực lớn nhất, trong khi cá tra, surimi và các sản phẩm thủy sản giá hợp lý có thể duy trì nhu cầu.
Trong bối cảnh ngành thủy sản Việt Nam đang hướng tới phát triển bền vững, minh bạch và bền vững, việc ứng dụng công nghệ vào sản xuất, quản lý và giám sát môi trường đang trở thành một hướng đi tối ưu hàng đầu. Nhiều doanh nghiệp công nghệ trong nước đã và đang đóng vai trò thúc đẩy quá trình chuyển đổi này, trong đó có Công ty Cổ phần Vật tư Khoa học Kỹ thuật - LASI
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn