Trong các sản phẩm tôm NK, tôm thịt đông lạnh (tôm thẻ, tôm sú) chiếm tỷ trọng cao nhất với 179 nghìn tấn, trị giá gần 1,5 tỷ USD. Tôm sú, tôm chân trắng chế biến là sản phẩm được NK nhiều thứ 2 với 89 nghìn tấn, trị giá 924 triệu USD. Hai sản phẩm này chiếm 43% NK tôm của Mỹ.
Nhìn chung, 9 tháng đầu năm nay, Mỹ có xu hướng tăng NK tôm chế biến, giảm NK các sản phẩm tôm đông lạnh. Theo đó, NK tôm sú, tôm thẻ chế biến tăng 15% về khối lượng và 17% về giá trị. NK tôm bao bột tăng lần lượt 23% và 25%. Trong khi đó, NK tôm đông lạnh các cỡ đều giảm từ 16-42% về khối lượng và giá trị so với cùng kỳ năm ngoái.
Ấn Độ, Ecuador, Indonesia, Việt Nam và Thái Lan là top 5 nguồn cung cấp tôm lớn nhất cho Mỹ. 9 tháng đầu năm nay, NK từ Ấn Độ, Ecuador và Việt Nam đều tăng mạnh, trong khi NK từ Indonesia tăng nhẹ 6% và từ Thái Lan giảm 4%. Ấn Độ chiếm thị phần cao nhất, 37% NK tôm vào Mỹ với 243 nghìn tấn, đạt trên 2 tỷ USD, tăng 26% so với cùng kỳ, trong khi NK từ Ecuador tăng 47% về lượng và 72% về giá trị so với cùng kỳ, chiếm 18% thị phần.
XK tôm Việt Nam sang Mỹ, dù tăng trưởng mạnh nhưng chỉ chiếm 12% thị phần. Năm nay, XK tôm chế biến các loại của Việt Nam sang Mỹ đều tăng mạnh: tôm chế biến mã HS 1605211030 tăng 25%, tôm chế biến mã HS 1605211020 tăng 35%; tôm chế biến mã HS 1605290500 tăng 16%, tôm chế biến mã HS 1605291010 tăng 22%. Trong khi đó, XK tôm đông lạnh mã HS 0306170040 sang Mỹ giảm mạnh 41%.
9 tháng đầu năm nay, Ecuador XK nhiều nhất tôm thịt đông lạnh sang Mỹ, chiếm 25% XK tôm sang Mỹ, tăng 13% về khối lượng và 23% về giá trị. Ngoài ra Ecuador cũng tăng mạnh XK tôm chế biến, tăng 48% về khối lượng và 51% về giá trị. NK tôm tôm đông lạnh cỡ 33- 45 và cỡ dưới 33 con/kg từ Ecuador vào Mỹ cũng tăng mạnh 86-87%.
|
Sản phẩm tôm nhập khẩu của Mỹ, T1- T9/2021 (GT: triệu USD; KL: nghìn tấn) |
|||||
|
Sản phẩm |
T1- T9/2021 |
Tăng trưởng (%) |
|||
|
Mã HS |
Mô tả |
GT |
KL |
GT |
KL |
|
0306170040 |
Tôm thịt đông lạnh loại khác |
1.492,233 |
179,060 |
-18 |
-16 |
|
1605211030 |
Tôm khác chế biến đông lạnh |
924,208 |
89,073 |
17 |
15 |
|
0306170009 |
Tôm khác đông lạnh cỡ 46-55 |
213,930 |
25,760 |
-39 |
-40 |
|
0306170003 |
Tôm khác đông lạnh cỡ <33 |
163,213 |
12,435 |
-42 |
-39 |
|
0306170006 |
Tôm khác đông lạnh cỡ 33-45 |
168,855 |
17,993 |
-39 |
-39 |
|
1605211020 |
Tôm bao bột đông lạnh |
345,268 |
46,909 |
25 |
23 |
|
0306170012 |
Tôm khác đông lạnh cỡ 56-66 |
150,278 |
19,685 |
-40 |
-42 |
|
0306170015 |
Tôm khác đông lạnh cỡ 67-88 |
153,875 |
24,408 |
-30 |
-31 |
|
0306170018 |
Tôm khác đông lạnh cỡ 89-110 |
77,844 |
13,230 |
-18 |
-23 |
|
0306170021 |
Tôm khác đông lạnh cỡ 111-132 |
57,492 |
9,359 |
-1 |
-11 |
|
1605291010 |
Tôm đông lạnh, đóng hộp kín khí |
68,888 |
6,497 |
47 |
39 |
|
1605291040 |
Tôm khác chế biến đóng hộp kín khí |
25,619 |
1,624 |
13 |
-4 |
|
0306170024 |
Tôm khác đông lạnh cỡ 133-154 |
12,007 |
2,279 |
-34 |
-37 |
|
0306170027 |
Tôm khác đông lạnh cỡ >154 |
10,369 |
2,026 |
-25 |
-28 |
|
1605290500 |
Tôm chế biến (xay) đóng hộp kín khí |
6,780 |
822 |
24 |
30 |
|
Sản phẩm khác |
1.725,262 |
193,436 |
4,595 |
3,974 |
|
|
|
Tổng |
5.596,122 |
644,593 |
23 |
20 |
(vasep.com.vn) Tháng 5/2026, XK thủy sản Việt Nam đạt 1,02 tỷ USD, tăng nhẹ 0,6%. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu thủy sản đạt 4,67 tỷ USD, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2025. Mức tăng hai con số cho thấy ngành thủy sản vẫn giữ được đà phục hồi, nhưng phía sau kết quả này là một bức tranh không hoàn toàn thuận lợi: đơn hàng thận trọng hơn, thị trường phân hóa rõ hơn và yêu cầu tuân thủ ngày càng trở thành điều kiện then chốt để giữ khách hàng.
Bản dự báo ngư trường do Trung tâm Nghiên cứu Hải sản phía Bắc thực hiện và cung cấp. VASEP xin đăng tải theo khuôn khổ hợp tác giữa hai bên. Bản dự báo có giá trị tham khảo, giúp doanh nghiệp, bạn đọc có thêm thông tin về diễn biến ngư trường khai thác theo tuần và theo tháng.
(vasep.com.vn) Lượng nhập khẩu mực và bạch tuộc của Trung Quốc trong tháng 4/2026 đã tăng vọt lên hơn 63.000 tấn, đạt giá trị gần 160 triệu USD – mức cao nhất kể từ đầu năm đến nay. Theo Food World (Bắc Kinh), sản lượng nhập khẩu tăng 52,7% và giá trị tăng 46,9% so với tháng 3/2026.
(vasep.com.vn) Tháng 4/2026, Trung Quốc nhập khẩu 146.519 tấn cá minh thái (pollock), trị giá 279 triệu USD, trong bối cảnh nhu cầu nguyên liệu chế biến tăng mạnh và giá nhập khẩu trung bình đạt 1,87 USD/kg theo dữ liệu từ Food World (Bắc Kinh).
(vasep.com.vn) Xuất khẩu cá rô phi của Trung Quốc đạt 57.000 tấn trong tháng 4/2026, mang về 105 triệu USD, theo số liệu hải quan Trung Quốc được Food World (Bắc Kinh) dẫn lại. Giá xuất khẩu trung bình đạt 1,84 USD/kg, phản ánh thị trường đang được dẫn dắt bởi nhu cầu mạnh ở cả phân khúc phi lê cao cấp và cá nguyên con giá rẻ tại nhiều khu vực khác nhau.
(vasep.com.vn) Sau giai đoạn nhập khẩu chững lại năm 2025, thị trường Trung Quốc đang quay lại với nhịp mua tôm khá mạnh trong những tháng đầu năm nay. Tuy nhiên, song song với nhu cầu tăng là hệ thống kiểm soát nhập khẩu ngày càng chặt hơn, từ kiểm dịch, an toàn thực phẩm đến hồ sơ đăng ký và truy xuất.
(vasep.com.vn) Hội chứng phân trắng (WFS) ở tôm không phải do một tác nhân đơn lẻ mà là rối loạn tiêu hóa phức hợp, liên quan đến vi bào tử trùng EHP, vi khuẩn cơ hội nhóm Vibrio, mất cân bằng hệ vi sinh đường ruột và điều kiện môi trường bất lợi. Nếu không phát hiện và xử lý kịp thời, bệnh có thể khiến tôm giảm ăn, chậm lớn và gây thiệt hại lớn về năng suất.
(vasep.com.vn) Ba tổ chức bảo tồn của Mỹ đã khởi kiện Cơ quan nghề cá thuộc Cục Quản lý đại dương và khí quyển quốc gia Mỹ (NOAA Fisheries), cho rằng cơ quan này phê duyệt nhập khẩu thủy sản từ tám quốc gia dù các nước này chưa áp dụng các biện pháp bảo vệ động vật có vú biển tương đương tiêu chuẩn của Mỹ.
(vasep.com.vn) 4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Nhật Bản đạt 429,1 triệu USD, tăng 1,8% so với cùng kỳ năm 2025. Nếu chỉ nhìn vào con số tổng, có thể thấy đây là một thị trường tương đối ổn định. Tuy nhiên, đi sâu vào cơ cấu sản phẩm, mức tăng này không phản ánh một sự phục hồi đồng đều của nhu cầu tiêu dùng tại Nhật Bản, mà cho thấy thị trường đang dịch chuyển rất rõ theo hướng: ưu tiên sản phẩm tiện lợi, chế biến sâu, giá hợp lý và phù hợp với áp lực chi tiêu của người dân Nhật. Nói cách khác, Nhật Bản không phải đang “mua nhiều hơn”, mà đang “mua khác đi”.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn