Những năm gần đây, với nhiều công trình nghiên cứu khoa học công nghệ nổi bật có ứng dụng cao trong thực tiễn, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III đã giới thiệu những giống mới, quy trình kỹ thuật nuôi mới giúp các doanh nghiệp, cá nhân trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản ngày một đa dạng hơn về đối tượng nuôi.
PGS.TS Nguyễn Hữu Ninh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu NTTS III (Viện III) cho biết, khu vực các tỉnh miền Trung (từ Thừa Thiên - Huế đến Bình Thuận) hiện có diện tích nuôi trồng thủy sản (NTTS) trên 60.000ha với điều kiện thiên nhiên ưu đãi (độ mặn cao và ổn định quanh năm). Các loại hình thủy vực, đối tượng nuôi, hình thức nuôi khu vực này đang ngày một đa dạng hơn, tuy vậy vẫn chưa tương xứng với tiềm năng to lớn nơi đây.
Bên cạnh đó, nhu cầu thị trường về sản phẩm hải sản ngày càng tăng cao, nghề nuôi hải sản ở nước ta đang có xu hướng phát triển nhanh chóng. Trong đó hình thức nuôi công nghiệp đang được nhiều doanh nghiệp quan tâm định hướng đầu tư, mở rộng diện tích nuôi hải sản công nghiệp ở các địa phương. Do vậy, nhu cầu thức ăn công nghiệp cho nuôi hải sản với số lượng lớn là xu thế tất yếu trong thời gian trước mắt và tương lai.
Mới đây, Viện đã nghiên cứu thành công đề tài “Công nghệ sản xuất thức ăn ương nuôi cá chình” góp phần đáp ứng nhu cầu tự cung tự cấp trong các doanh nghiệp nuôi lớn và một phần sẽ cung cấp thức ăn cho các trang trại có quy mô nhỏ ở các địa phương.
Hiện nay việc nuôi cá chình chủ yếu dựa vào thức ăn tươi, cá tạp tự chế biến (ước tính 100.000 tấn/năm) mang lại tác động xấu đến môi trường cũng như hiệu quả kinh tế. Một số trang trại tiến hành nhập khẩu thức ăn công nghiệp từ nước ngoài, tuy nhiên giá thành cao, thủ tục phức tạp và không chủ động nguồn thức ăn.
Theo ông Ninh, việc nghiên cứu công nghệ sản xuất thức ăn nuôi cá chình từ enzyme và một số nguyên liệu sẵn có ở Việt Nam là một tiến bộ mới, là bước đột phá trong việc ứng dụng, phát triển ngành sản xuất thức ăn nuôi thủy sản nói chung và lĩnh vực chế biến thức ăn cá chình nói riêng. Do từ trước đến nay chưa có nghiên cứu ứng dụng, công ty hoặc cơ sở nào sản xuất thức ăn cho cá chình từ nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước có bổ sung enzyme.
Ứng dụng enzyme để sản xuất thức ăn tổng hợp góp phần đảm bảo nghề nuôi phát triển bền vững. Sử dụng nguyên liệu sẵn có trong nước để sản xuất thức ăn, giảm sự phụ thuộc vào thức ăn nhập khẩu, tạo ra sản phẩm hàng hoá có tính cạnh tranh cao (giá thành thấp hơn 20 - 25% so với thức ăn nhập ngoại), làm tăng hiệu quả kinh tế, tăng lợi nhuận cho người nuôi, tiến tới thay thế thức ăn cá tạp nuôi cá chình, góp phần thúc đẩy nghề nuôi cá chình ở nước ta phát triển theo hướng công nghiệp, bền vững.
Ngoài ra, Viện đã xây dựng được quy trình công nghệ và mô hình thiết bị sản xuất thức ăn nuôi cá chình, tạo ra được công thức thức ăn có hiệu quả kinh tế cao, hoàn thiện mô hình thiết bị dây chuyền sản xuất thức ăn công suất 500 kg/giờ, thay thế việc nhập máy móc từ nước ngoài.
Bên cạnh hiệu quả về nghiên cứu tạo ra thức ăn tổng hợp cho cá chình, mới đây Viện III đã xây dựng thành công quy trình nuôi thương phẩm tôm hùm bông bằng thức ăn công nghiệp trong hệ thống bể sử dụng nước tuần hoàn.
PGS.TS Nguyễn Hữu Ninh cho hay, sau 2 năm thực hiện, Viện đã thiết kế và vận hành hiệu quả hệ thống nuôi gồm bể nuôi và bể lọc sinh học, và chọn lựa được các thiết bị phụ trợ như máy bơm, máy xử lý nước, máy ổn định nhiệt độ môi trường nuôi, máy cung cấp ô xy nguyên chất, thiết bị lọc…
Bể lọc sinh học sử dụng vật liệu sẵn có trong nước có hiệu suất lọc khá tốt, duy trì ổn định các yếu tố môi trường nuôi phù hợp cho tôm hùm bông phát triển, với tỉ lệ sống của tôm hùm bông nuôi trong bể đạt 70%.
Đến nay, nhóm tác giả bước đầu đã chủ động sản xuất được thức ăn công nghiệp dạng viên sử dụng 100% nguyên liệu sẵn có trong nước, thay thế hoàn thức ăn tươi. Chi phí thức ăn để sản xuất 1kg tôm hùm bông ước tính 300.000 - 400.000 đồng/kg tùy vào cỡ tôm.
Ông Ninh cho biết thêm, nuôi tôm hùm trong bể tuần hoàn nước bằng thức ăn công nghiệp là mô hình nuôi tiên tiến, chủ động kiểm soát chất lượng đầu vào (nước, thức ăn) do đó giúp giảm thiểu dịch bệnh và tạo sản phẩm sạch, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.
Mô hình nuôi trong bể giúp hạn chế được rủi ro như bão, lũ lụt, ô nhiễm môi trường, ít lệ thuộc vào thiên nhiên là hướng đi phù hợp để phát triển bền vững nghề nuôi tôm hùm của Việt Nam.
Bên cạnh việc nghiên cứu cải tiến các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất thức ăn, thì việc ứng dụng công nghệ trong di truyền chọn giống là rất cần thiết nhằm nâng cao tỷ lệ sống và độ tăng trưởng cho các loại thủy sản nuôi.
PGS.TS Nguyễn Hữu Ninh cho biết, ở Việt Nam, từ thập niên 90 các nghiên cứu về sinh sản nhân tạo cá chẽm đã bắt đầu nghiên cứu, đến nay công nghệ sản xuất giống cá chẽm đã đạt những kết quả nhất định. Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III đang lưu giữ đàn cá bố mẹ là sản phẩm của đề tài di truyền chọn giống cá chẽm.
| Sản xuất giống cá chẽm bố mẹ |
Đàn cá này có tốc độ tăng trưởng nhanh so với đàn cá bố mẹ trước đây từ 10 - 15%, đã và đang được sử dụng cho việc sản xuất giống với công suất trại giống 2 - 3 triệu cá giống 3 - 5 cm/năm.
Bên cạnh sản xuất thành công giống cá chẽm, mới đây, Viện III đã hợp tác nghiên cứu với Philippines và Úc phát triển công nghệ sinh sản nhân tạo cá song vua (cá mú nghệ), với mục tiêu xây dựng quy trình sản xuất giống ổn định và đạt hiệu quả cao để góp phần phát triển bền vững nghề nuôi cá song vua tại Việt Nam.
Ông Ninh cho rằng, một trong những khó khăn trong việc phát triển nghề nuôi cá mú nghệ chủ yếu do số lượng con giống sản xuất ra trong nước chưa đáp ứng được nhu cầu nuôi nên vẫn còn phụ thuộc vào nguồn giống nhập ngoại. Hiện nay, trong khu vực chỉ có Đài Loan có thể sản xuất giống đối tượng này với số lượng lớn và xuất giống đi các nước.
Đề tài phát triển công nghệ sinh sản nhân tạo cá song vua đã nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ. Cá bố mẹ đưa vào thuần dưỡng và nuôi vỗ có trọng lượng từ 20 - 35kg, tuổi cá từ 3 - 4 năm, được tuyển chọn từ đánh bắt ngoài tự nhiên. Thức ăn cho cá bố mẹ là các loại thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao như cá tươi, mực, cua, ghẹ…
Ngoài nghiên cứu thành công về cá giống bố mẹ, gần đây Viện III đã tiến hành nghiên cứu sản xuất giống các đối tượng nhuyễn thể như trai ngọc nữ, trai tai tượng…
| Chuyên gia thực hiện kỹ thuật cấy ngọc vào trai ngọc nữ |
Từ tháng 7/2017, trong khuôn khổ hợp tác với Úc, dự án phát triển nuôi trai cấy ngọc bán cầu tại bắt đầu thực hiện tại Viện III đã được các chuyên gia từ Úc và cán bộ Viện III tiến hành cho trai sinh sản. Kết quả thu được 5 triệu ấu trùng chữ D, và thu được 400 ngàn con giống điệp quạt với kích cỡ 1 - 3mm, hiện con giống đang được ương nuôi tại Viện III.
Ngoài ra, dự án cũng thử nghiệm cấy ngọc và thu được 71 viên ngọc bán cầu. Dự kiến trong năm 2018, dự án sẽ thực hiện việc ương giống, cấy ngọc quy mô lớn và chuyển giao công nghệ đến người dân và doanh nghiệp.
|
PGS.TS Nguyễn Hữu Ninh cho biết, với những chức năng và nhiệm vụ chính như nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, đào tạo, hợp tác quốc tế, tư vấn dịch vụ về bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản, nuôi trồng, khai thác thủy sản, chế biến thủy sản… trong giai đoạn 2013 - 2016, Viện Nghiên cứu NTTS III đã chủ trì thực hiện 53 nhiệm vụ KHCN các cấp (11 nhiệm vụ cấp Nhà nước, 18 cấp Bộ, 18 cấp Tỉnh và 6 nhiệm vụ nhánh) và 9 nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng. Trong đó, tập trung vào các vấn đề chính như chọn giống, sản xuất giống, thức ăn trong nuôi trồng thủy sản… |
Người Việt hay nói “trước thềm năm mới”. Với người làm biển, đó là khoảnh khắc đứng ở mũi thuyền khi trời còn lờ mờ sáng; với người nuôi trồng, là lúc đi dọc bờ ao, nhìn mặt nước yên hay gợn. Một khoảnh khắc rất ngắn, nhưng đủ dài để tự hỏi: năm tới, mình sẽ đối đãi với nước, với biển như thế nào?
(vasep.com.vn) Trong bối cảnh nuôi trồng thủy sản toàn cầu ngày càng chịu áp lực từ yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, cá rô phi đơn tính đực đang được xem là một giải pháp công nghệ quan trọng, mở ra hướng đi mới cho ngành nuôi cá rô phi tại nhiều quốc gia.
(vasep.com.vn) Năm 2025 đánh dấu bước tăng trưởng mạnh của ngành cá minh thái Nga khi sản lượng cung ứng cho thị trường nội địa đạt mức cao kỷ lục 271 nghìn tấn, tăng 7% so với năm 2024. Theo Hiệp hội các doanh nghiệp khai thác cá minh thái Nga (ADM), đây là mức cao nhất từ trước tới nay, đồng thời cho thấy sự chuyển dịch rõ rệt trong chiến lược phát triển thị trường trong nước đối với loài cá chủ lực này. Kể từ năm 2013, khối lượng cá minh thái tiêu thụ nội địa đã tăng gần 4,5 lần.
(vasep.com.vn) Trong tháng 1, Na Uy xuất khẩu thủy sản đạt 14,8 tỷ NOK, giảm 3% so với cùng kỳ năm ngoái, dù sản lượng xuất khẩu của nhiều mặt hàng ghi nhận mức tăng. Diễn biến này cho thấy các yếu tố như giá bán giảm, biến động tiền tệ và rào cản thương mại đang tác động ngày càng rõ tới ngành thủy sản Na Uy.
(vasep.com.vn) Năm 2026 được dự báo sẽ là thời điểm ngành thủy sản toàn cầu trải qua những thay đổi sâu rộng, khi các xu hướng về công nghệ, hành vi tiêu dùng và dịch chuyển nhân khẩu học cùng lúc tác động đến toàn bộ chuỗi giá trị. Theo đánh giá của Hội đồng Thủy sản Na Uy (NSC), ngành đang bước ra khỏi giai đoạn tăng trưởng truyền thống để tiến vào một chu kỳ phát triển mới, mang tính chuyển đổi toàn diện.
(vasep.com.vn) Việc tăng cường giám sát tôm nhập khẩu là một trong những ưu tiên hàng đầu của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) trong năm 2026. Gần đây, cơ quan này đã công bố một loạt lĩnh vực trọng tâm sẽ triển khai trong năm tới.
(vasep.com.vn) Tập đoàn thủy sản Norebo có trụ sở tại Murmansk (Nga) đã chính thức thua kiện trong vụ tranh chấp pháp lý với chính quyền Na Uy liên quan đến hạn ngạch và giấy phép khai thác thủy sản tại vùng đặc quyền kinh tế của nước này. Vụ việc được Tòa án quận Oslo xem xét và phán quyết theo hướng có lợi cho phía Na Uy.
(vasep.com.vn) Hội đồng Quản lý Nuôi trồng Thủy sản (ASC) xác nhận chương trình chứng nhận của tổ chức này tại Trung Quốc sẽ hết hiệu lực vào năm 2027, buộc nhiều doanh nghiệp đang được chứng nhận phải chuyển hướng trong thời gian tới. ASC đã bắt đầu rút dần hoạt động từ tháng 3/2024 và đóng cửa văn phòng tại Trung Quốc sau khi tiến hành rà soát chiến lược về hoạt động và thị trường. Theo ASC, quyết định này nhằm tập trung nguồn lực hạn chế vào những khu vực và thị trường có thể tạo ra tác động lớn hơn, đồng thời để ngỏ khả năng điều chỉnh trong các đánh giá tương lai.
(vasep.com.vn) Năm 2025, xuất khẩu ghẹ của việt Nam đạt gần 86 triệu USD, tăng gần 6% so với năm 2024.
(vasep.com.vn) Vào tháng 8/2025, Cơ quan Nghề cá của Cục Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia Hoa Kỳ (NOAA Fisheries) đã công bố một thông báo trên Công báo Liên bang về Quyết định Xác định Khả năng so sánh nghề cá năm 2025 theo các Điều khoản Nhập khẩu của Đạo luật Bảo vệ Động vật biển có vú (MMPA).
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn