Indonesia XK sang Việt Nam, Trung Quốc, Malaysia chủ yếu là tôm nguyên liệu. Các mặt hàng tôm giá trị gia tăng và chế biến sâu thường được xuất sang Mỹ, Nhật Bản, EU. Các sản phẩm tôm chế biến của Indonesia XK sang EU được giá hơn xuất sang Mỹ và Nhật Bản.
Nguồn cung tôm lớn nhất tại Mỹ
Trên thị trường Mỹ, Indonesia là nhà cung cấp lớn nhất, chiếm 23% tổng giá trị NK tôm vào Mỹ. Việt Nam đứng thứ tư chiếm 11,7%. Trong 7 tháng đầu năm nay, XK tôm từ Indonesia sang Mỹ tăng 5% về khối lượng nhưng giảm 3% về giá trị. Trong khi, XK tôm từ Việt Nam tăng 8% khối lượng và 1% về giá trị. Giá XK trung bình của Indonesia năm nay đạt 9 USD/kg, giảm so với 10 USD/kg của năm ngoái. Giá XK trung bình của Việt Nam vẫn giữ là 11 USD/kg và cao hơn Indonesia.
Tôm thịt nguyên liệu đông lạnh (HS0306170040) là sản phẩm được NK nhiều nhất vào Mỹ. Ấn Độ là nhà cung cấp lớn nhất mặt hàng này cho Mỹ, tiếp đó là Indonesia và Việt Nam. Ấn Độ tăng mạnh về khối lượng và giá trị cung cấp mặt hàng này lần lượt là 27% và 18% trong khi Indonesia tăng 1% về khối lượng nhưng giảm 6% về giá trị. Việt Nam đứng thứ 3 tăng 1% về giá trị và 12% về khối lượng.
Tôm thịt chế biến đông lạnh (HS1605211030) là sản phẩm được NK nhiều thứ hai vào Mỹ. Thái Lan là nhà cung cấp lớn nhất, Việt Nam và Indonesia lần lượt đứng thứ hai và ba. Thái Lan giảm 10% và 18% lần lượt về khối lượng và giá trị cung cấp mặt hàng này cho Mỹ. Việt Nam đứng thứ hai tăng 16% và 13%. Indonesia đứng thứ ba tăng lần lượt 17% và 4%.
Trên thị trường Mỹ hiện nay có lẽ Indonesia là nước có khả năng cạnh tranh cao nhất bởi nhiều yếu tố thuận lợi cả trong sản xuất lẫn XK tôm.
Về sản xuất, ngành tôm Indonesia ít bị dịch bệnh hơn các nước khác. Về XK sang Mỹ, tôm nước này không phải chịu thuế chống bán phá giá như Việt Nam, Thái Lan hay Ấn Độ. Ngoài ra, ngành tôm Indonesia dường như không vấp phải nhiều rào cản từ phía Mỹ như các nước khác. Năm 2013, Indonesia vẫn còn đứng sau Ấn Độ và Thái Lan về cung cấp tôm cho thị trường này và nhanh chóng lên vị trí dẫn đầu năm 2014 và dao động ở vị trí số 1 và số 2 từ đó tới nay. Từ nay đến cuối năm, Indonesia dự kiến tiếp tục duy trì vị trí dẫn đầu về cung cấp tôm cho Mỹ.
Giảm XK tôm sang Nhật Bản
Trên thị trường tôm Nhật Bản, Indonesia đứng thứ ba chiếm 16,7% thị phần, sau Việt Nam – nguồn cung cấp lớn nhất, chiếm 23% và Thái Lan (18%). Giá XK trung bình tôm của Việt Nam và Indonesia là tương đương nhau với gần 11 USD/kg trong 7 tháng đầu năm nay. Tuy nhiên XK tôm từ Indonesia sang Nhật giảm 8%, từ Việt Nam cũng giảm 10,4% và từ Thái Lan giảm nhẹ 1,2%.
Gia tăng XK tôm sang EU
Trên thị trường EU, Indonesia chiếm 2,6% thị phần, thấp hơn nhiều so với 7,7% thị phần của tôm Việt Nam. Tuy nhiên, 5 tháng đầu năm 2016, XK từ Việt Nam sang EU tăng 10,1% trong khi từ Indonesia tăng mạnh hơn với 19,8%. Cuối năm nay Indonesia sẽ khởi động các vòng đàm phán FTA với EU về các vấn đề như thuế, hải quan, rào cản thương mại để thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa hai bên. Do vậy, XK tôm Indonesia sang EU dự kiến có nhiều bước tiến mới.
Sản lượng dự kiến tăng
Sản lượng tôm nuôi ở Indonesia có dấu hiệu được cải thiện trong năm nay. Dịch bệnh phân trắng xuất hiện trên cả nước tuy nhiên không quá nghiêm trọng. Bộ Nghề cá Indonesia có kế hoạch khôi phục nuôi tôm sú ở phía bắc Kalimantan đồng thời nước này đã thực hiện tăng mật độ thả nuôi và mở rộng nhiều diện tích nuôi tôm mới.
Theo khảo sát ngành tôm hàng năm của Liên minh Nuôi trồng Thủy sản toàn cầu (GAA), tốc độ tăng trưởng sản lượng tôm Indonesia sẽ dẫn đầu châu Á và dự kiến đạt 800.000 tấn vào năm 2017.
Dự báo Indonesia sẽ tiếp tục tăng khối lượng tôm XK sang các thị trường chính trong những tháng cuối năm do sản lượng tăng, tuy nhiên, giá trung bình giảm nên giá trị XK sẽ không hồi phục.
|
Xuất khẩu tôm của Indonesia (Nguồn: ITC) |
|
||||||
|
Thị trường |
KL (tấn) |
GT (nghìn USD) |
Giá TB (USD/kg) |
||||
|
T1-T4/2015 |
T1-T4/2016 |
Tăng, giảm(%) |
T1-T4/2015 |
T1-T4/2016 |
Tăng, giảm(%) |
T1-T4/2016 |
|
|
TG |
59.687 |
62.688 |
5,0 |
561.438 |
523.563 |
-6,7 |
8,4 |
|
Mỹ |
35.394 |
36.547 |
3,3 |
349.053 |
325.766 |
-6,7 |
8,9 |
|
Nhật Bản |
9.871 |
10.154 |
2,9 |
114.466 |
104.358 |
-8,8 |
10,3 |
|
Việt Nam |
1.777 |
2.281 |
28,3 |
9.716 |
12.306 |
26,7 |
5,4 |
|
Anh |
1.544 |
1.849 |
19,8 |
17.558 |
19.467 |
10,9 |
10,5 |
|
Hà Lan |
1.272 |
1.044 |
-17,9 |
11.256 |
9.654 |
-14,2 |
9,2 |
|
Đức |
424 |
629 |
48,4 |
5.340 |
7.649 |
43,2 |
12,2 |
|
Trung Quốc |
2.252 |
1.764 |
-21,7 |
16.682 |
12.051 |
-27,8 |
6,8 |
|
Pháp |
287 |
427 |
49,1 |
2.432 |
4.087 |
68,1 |
9,6 |
|
Malaysia |
1.336 |
2.542 |
90,3 |
4.549 |
5.805 |
27,6 |
2,3 |
|
Canada |
519 |
425 |
-18,0 |
5.188 |
4.003 |
-22,8 |
9,4 |
(vasep.com.vn) Xuất khẩu thủy sản của Nhật Bản trong tháng 7/2026 ghi nhận diễn biến trái chiều khi sản lượng giảm mạnh nhưng giá trị vẫn tăng so với cùng kỳ năm trước. Theo số liệu thương mại của Bộ Tài chính Nhật Bản, tổng lượng thủy sản xuất khẩu, gồm thủy sản tươi sống, sản phẩm chế biến và bột cá, đạt 38.597 tấn, giảm 35%, trong khi kim ngạch đạt 30,53 tỷ yên, tăng 15%.
(vasep.com.vn) Cơ quan quản lý cảng New Mangalore (NMPA) vừa xử lý thành công lô hàng bột cá xuất khẩu lên tới 3.000 tấn. Toàn bộ lô hàng được đóng trong các bao jumbo và bốc xếp lên tàu MV CHRISTINA tại Cầu cảng số 4.
(vasep.com.vn) Chi phí thức ăn hiện chiếm từ 60% đến 85% tổng chi phí sản xuất tại các trại nuôi cá tra ở Nam Á và Đông Nam Á. Với vị thế là khu vực sản xuất cá da trơn lớn nhất thế giới—trong đó Việt Nam dẫn đầu với 1,75 triệu tấn vào năm 2023, chiếm 51% tổng sản lượng toàn cầu—việc cải thiện hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) đóng vai trò quyết định giúp nhà nông bảo đảm và gia tăng lợi nhuận.
Văn phòng Hiệp hội xin vô cùng thương tiếc báo tin:
(vasep.com.vn) Ngày 14/9/2026, Hạ viện Mỹ đã thông qua dự luật "Thực thi chống đánh bắt Cá hồng và Cá ngừ bất hợp pháp" (Illegal Red Snapper and Tuna Enforcement Act) lên Tổng thống Donald Trump để ký ban hành thành luật.
(vasep.com.vn) Nhu cầu đối với các nguyên liệu biển dùng để sản xuất bột cá và dầu cá tiếp tục tăng, trong khi nhiều dấu hiệu đang cho thấy ngành nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm, có thể phải đối mặt với một khoảng thiếu hụt nguồn cung đáng kể trong những năm tới.
(vasep.com.vn) Đức đang nổi lên như một trung tâm đổi mới quan trọng trong lĩnh vực nuôi cá hiện đại, dù sản lượng thủy sản nuôi trong nước còn tương đối khiêm tốn. Theo báo cáo mới nhất của Hatch Blue, khoảng 90% thủy sản tiêu thụ tại Đức hiện phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu.
(vasep.com.vn) Hiệp hội Cá minh thái và Viện Nghiên cứu Thực phẩm dành cho Trẻ em thuộc Trung tâm Nghiên cứu Liên bang về Dinh dưỡng và Công nghệ sinh học Nga vừa ký thỏa thuận hợp tác bên lề Diễn đàn Kinh tế Phương Đông (EEF), nhằm phát triển các dòng sản phẩm từ cá dành cho trẻ em.
(vasep.com.vn) Trong quá trình tìm kiếm hướng đi mới cho ngành cá rô phi, phát triển nuôi trong môi trường nước lợ có thể mở ra một lợi thế khác biệt cho Việt Nam. Thay vì cạnh tranh chủ yếu về sản lượng và giá thành với những quốc gia có ngành rô phi phát triển, Việt Nam có thể tạo dấu ấn bằng những sản phẩm cá rô phi chất lượng cao, gắn với điều kiện nuôi đặc thù và phân khúc thị trường giá trị gia tăng.
(vasep.com.vn) Việc thương mại hóa sản xuất tôm giống đã giúp người nuôi Ấn Độ từng bước giảm phụ thuộc vào nguồn tôm sú giống tự nhiên, đồng thời tạo nền tảng để tôm thẻ chân trắng được nuôi với quy mô lớn.
VASEP - HIỆP HỘI CHẾ BIẾN VÀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội
Đơn vị vận hành trang tin điện tử: Trung tâm VASEP.PRO
Trưởng Ban Biên tập: Bà Phùng Thị Kim Thu
Giấy phép hoạt động Trang thông tin điện tử tổng hợp số 138/GP-TTĐT, ngày 01/10/2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tel: (+84 24) 3.7715055 – (ext.203); email: kimthu@vasep.com.vn
Trụ sở: Số 7 đường Nguyễn Quý Cảnh, Phường An Phú, Quận 2, Tp.Hồ Chí Minh
Tel: (+84) 28.628.10430 - Fax: (+84) 28.628.10437 - Email: vasephcm@vasep.com.vn
VPĐD: số 10, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
Tel: (+84 24) 3.7715055 - Fax: (+84 24) 37715084 - Email: vasephn@vasep.com.vn